|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang.
Các Thẩm phán: Ông Lương Thanh Nhàn
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Bảo L, sinh năm 2004 tại tỉnh Cần Thơ; nơi thường trú: khu vực P, phường T, quận T, tỉnh Cần Thơ; nghề nghiệp: nhân viên thu ngân; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Kiều T; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 25/8/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH T13; địa chỉ: số B C, tổ A, ấp (nay là khu phố) T, xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Phạm Ký N, chức vụ: Trưởng phòng thu ngân, theo Văn bản ủy quyền ngày 12/6/2024, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Văn B, sinh năm 1972;
- Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1980; Cùng nơi thường trú: khu vực P, phường T, quận T, tỉnh Cần Thơ, vắng mặt.
- Nguyễn Văn H, sinh năm 2003, nơi thường trú: ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trần Văn T1, sinh năm: 1980, nơi thường trú: khu phố H, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Phạm Thị T2, sinh năm: 1987, nơi thường trú: xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Huỳnh Văn S, sinh năm: 1986, nơi thường trú: xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
- Đặng Văn H1, sinh năm: 1990, nơi thường trú: xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
- Phan Thị Ngọc P, sinh năm: 1989, nơi thường trú: khu phố E, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Bùi Thị Hoàng D, sinh năm: 1984, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
- Lâm Thị Ngọc M, sinh năm: 1989, nơi thường trú: khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Trịnh Ngọc Đ, sinh năm: 1971, nơi thường trú: phường C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Mai Thị Ngọc Q, sinh năm: 1999, nơi thường trú: xã V, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh năm: 1998, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Phan Diễm T3, sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã V, huyện V, tỉnh Long An, vắng mặt.
- Vũ Thị Thảo N1, sinh năm: 1997, nơi thường trú: xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, vắng mặt.
- Lê Thị Hồng T4, sinh năm: 1996, nơi thường trú: thị trấn T, huyện P, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
- Huỳnh Văn K, sinh năm: 1973, nơi thường trú: xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1982, nơi thường trú: khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Thị M1, sinh năm: 1970, nơi thường trú: xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1986, nơi thường trú: khu phố B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Tố N2, sinh năm: 1989, nơi thường trú: xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Phan Ngọc T6, sinh năm: 1994, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.
- Phạm Thị Thanh L3, sinh năm: 1981, nơi thường trú: xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1981, nơi thường trú: xã Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.
- Lê Thị T7, sinh năm: 1984, nơi thường trú: Khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Hà Thị Thùy N3, sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Nguyễn Thị Diễm X, sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.
- Châu Đình N4, sinh năm: 1996, nơi thường trú: xã A, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- Trần Hà N5, sinh năm: 1994, nơi thường trú: huyện Đ, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Phan Thị Kim P1, sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã B, huyện T, tỉnh Long An, vắng mặt.
- Nguyễn Thanh L4, sinh năm: 1988, nơi thường trú: phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.
- Nguyễn Vũ L5, sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã V, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trương Văn M2, sinh năm: 1964, nơi thường trú: xã V, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Phạm Thị Bích X1, sinh năm: 1988, nơi thường trú: xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Lê Thị G, sinh năm: 1973, nơi thường trú: thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Lê Quang H2, sinh năm: 1983, nơi thường trú: phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- Trần Thị T8, sinh năm: 1989, nơi thường trú: xã V, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Huỳnh Văn K, sinh năm: 1973, nơi thường trú: xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Tô Thị Chanh Đ1, sinh năm: 1995, nơi thường trú: xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
- Thạch Thị Á, sinh năm: 1997, nơi thường trú: xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Trương Thị Thúy N6, sinh năm: 1999, nơi thường trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
- Lê Thị Mỹ T9, sinh năm: 1983, nơi thường trú: xã B, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Lê Thị L6, sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
- Lê Thị T10, sinh năm: 1998, nơi thường trú: khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Nguyễn Văn T11, sinh năm:1988, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
- Phan Thị Tuyết L7, sinh năm 1984, nơi thường trú: xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Bảo L và Nguyễn Văn X2 là nhân viên của Công ty TNHH T13 (gọi tắt là công ty T13), địa chỉ: ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Trần Bảo L vào làm tại công ty từ ngày 04/05/2022, có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, còn Nguyễn Văn X2 vào làm tại công ty từ ngày 02/8/2022 không xác định thời hạn nhưng không ký hợp đồng. L và X2 được công ty giao nhiệm vụ thu ngân (thu tiền nợ của khách hàng), cụ thể: công ty T13 giao cho L và Xe phiếu thu tiền của khách hàng để L và X2 liên hệ với khách hàng để thu, sau đó đem về giao cho kế toán của công ty. L và Xe làm việc dưới nhóm của Nguyễn Văn H (sinh năm 2003, nơi thường trú: ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang) cũng làm nhiệm vụ thu ngân và chịu sự quản lý trực tiếp của kế toán trưởng Trần Văn T1 (sinh năm: 1980, nơi thường trú: khu phố H, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương).
Ngày 15/11/2022, Trần Văn T1 giao cho Nguyễn Văn H 230 phiếu thu tiền của các khách hàng mua hàng trả góp tại Công ty T13 với tổng số tiền cần thu là 246.164.000 đồng. H nhận phiếu thu, sau đó giao cho Trần Bảo L 87 phiếu tương ứng với số tiền phải thu là 92.104.000 đồng và Nguyễn Văn X2 89 phiếu tương ứng với số tiền phải thu là 99.060.000 đồng, còn 54 phiếu tương ứng với số tiền 55.000.000 đồng thì H tự đi thu. Đến ngày 16/11/2022, H thu được số tiền 55.000.000 đồng của khách hàng, tương ứng với 54 phiếu thu và nộp tiền lại cho công ty.
Đối với Trần Bảo L, ngày 15/11/2022, L đi thu được tiền 42 phiếu thu với tổng số tiền là 43.552.000 đồng của 42 khách hàng gồm:
- Phạm Thị T2 (sinh năm: 1987, nơi thường trú: Xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh) trả cho L số tiền 2.200.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của L.
- Huỳnh Văn S (sinh năm: 1986, nơi thường trú: xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau), trả tiền mặt cho L số tiền 1.400.000 đồng.
- Đặng Văn H1 (sinh năm: 1990, nơi thường trú: xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng) trả tiền mặt cho L số tiền 1.300.000 đồng.
- Phan Thị Ngọc P (sinh năm: 1989, nơi thường trú: khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Bùi Thị Hoàng D (sinh năm: 1984, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) trả tiền mặt cho L số tiền 300.000 đồng.
- Lâm Thị Ngọc M (sinh năm: 1989, nơi thường trú: khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Trịnh Ngọc Đ (sinh năm: 1971, nơi thường trú: phường C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Mai Thị Ngọc Q (sinh năm: 1999, nơi thường trú: xã V, huyện C, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Nguyễn Thị Tuyết L1 (sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Phan Diễm T3 (sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã V, huyện V, tỉnh Long An) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Vũ Thị Thảo N1 (sinh năm: 1997, nơi thường trú: xã T, huyện N, tỉnh Nam Định) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Lê Thị Hồng T4 (sinh năm: 1996, nơi thường trú: thị trấn T, huyện P, tỉnh Hậu Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Huỳnh Văn K (sinh năm: 1973, nơi thường trú: xã L, huyện T, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị L2 (sinh năm: 1982, nơi thường trú: khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Thị M1 (sinh năm: 1970, nơi thường trú: xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị T5 (sinh năm: 1986, nơi thường trú: khu phố B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị Tố N2 (sinh năm: 1989, nơi thường trú: xã M, huyện C, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.100.000 đồng.
- Phan Ngọc T6 (sinh năm: 1994, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) trả tiền mặt cho L số tiền 1.100.000 đồng.
- Phạm Thị Thanh L3 (sinh năm: 1981, nơi thường trú: xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị Y (sinh năm: 1981, nơi thường trú: xã Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Long) trả tiền mặt cho L số tiền 1.400.000 đồng.
- Lê Thị T7 (sinh năm: 1984, nơi thường trú: khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 850.000 đồng.
- Hà Thị Thùy N3 (sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị Diễm X (sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Châu Đình N4 (sinh năm: 1996, nơi thường trú: xã A, huyện H, tỉnh Đồng Tháp) trả tiền mặt cho L số tiền 1.500.000 đồng.
- Trần Hà N5 (sinh năm: 1994, nơi thường trú: huyện Đ, tỉnh Cà Mau) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Phan Thị Kim P1 (sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã B, huyện T, tỉnh Long An) trả tiền mặt cho L số tiền 952.000 đồng.
- Nguyễn Thanh L4 (sinh năm: 1988, nơi thường trú: phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ) trả tiền mặt cho L số tiền 1.300.000 đồng.
- Nguyễn Vũ L5 (sinh năm: 1998, nơi thường trú: xã V, huyện T, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 500.000 đồng.
- Trương Văn M2 (sinh năm: 1964, nơi thường trú: xã V, huyện A, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Phạm Thị Bích X1 (sinh năm: 1988, nơi thường trú: xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh) trả tiền mặt cho L số tiền 1.500.000 đồng.
- Lê Thị G (sinh năm: 1973, nơi thường trú: thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Lê Quang H2 (sinh năm: 1983, nơi thường trú: phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Trần Thị T8 (sinh năm: 1989, nơi thường trú: xã V, huyện A, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Huỳnh Văn K (sinh năm: 1973, nơi thường trú: xã L, huyện T, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.300.000 đồng.
- Tô Thị Chanh Đ1, sinh năm: 1995, nơi thường trú: xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Thạch Thị Á (sinh năm: 1997, nơi thường trú: xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Trương Thị Thúy N6 (sinh năm: 1999, nơi thường trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau) trả tiền mặt cho L số tiền 1.000.000 đồng.
- Lê Thị Mỹ T9 (sinh năm: 1983, nơi thường trú: xã B, huyện C, tỉnh An Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 1.500.000 đồng.
- Lê Thị L6 (sinh năm: 1985, nơi thường trú: xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre) trả tiền mặt cho L số tiền 1.500.000 đồng.
- Lê Thị T10 (sinh năm: 1998, nơi thường trú: khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) trả tiền mặt cho L số tiền 2.100.000 đồng.
- Nguyễn Văn T11 (sinh năm: 1988, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) trả tiền mặt cho L số tiền 1.900.000 đồng.
- Phan Thị Tuyết L7 (sinh năm 1984, nơi thường trú: xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang) trả tiền mặt cho L số tiền 850.000 đồng.
Sau khi thu tiền từ 42 khách hàng, L gặp X2 thì X2 nói với L đưa 45 phiếu thu còn lại cho X2 đi thu hộ. L đồng ý và đưa 45 phiếu thu còn lại cho X2 rồi bỏ về quê ở thành phố Cần Thơ, L không giao nộp lại số tiền 43.552.000 đồng cho Công ty T13. Số tiền thu được, L trả nợ và tiêu xài hết.
Đối với Nguyễn Văn X2, sau khi lấy thêm 45 phiếu thu từ L, X2 đưa lại cho T12 (không rõ lai lịch, là nhân viên cũ của công ty T13 đã nghỉ việc từ tháng 10/2022) 06 phiếu thu các khách hàng ở khu vực huyện B được 8.220.000 đồng, còn Xe giữ 128 phiếu thu và đã đi thu của 125 khách hàng (trong đó có 02 khách hàng bị trùng tên, 01 khách hàng mua 02 sản phẩm) được tổng số tiền 139.392.000 đồng. Sau đó, X2 và T12 bỏ trốn không đem tiền thu được về giao nộp cho Công ty T13.
Ngày 25/8/2023, Cơ quan điều tra C (nay là thành phố) B đã bắt được Trần Bảo L, khi đang bỏ trốn ở khu vực huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) B, Trần Bảo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 134/CT-VKSBC ngày 15/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Bảo L về tội “Tham ô tài sản" theo quy định khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bảo L mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
- Bị cáo Trần Bảo L không ý kiến tranh luận.
- Đại diện hợp pháp bị hại ông Phạm Ký N có ý kiến tranh luận: Quá trình điều tra gia đình bị cáo (cha, mẹ bị cáo) đã bồi thường cho Công ty T13 được 20 triệu đồng, thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên tại phiên tòa hôm nay Công ty T13 không tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Bảo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, các biên bản hỏi cung bị can, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trần Bảo L là nhân viên thu ngân của Công ty T13, nhiệm vụ của L là thu tiền nợ của khách hàng mua hàng trả góp tại Công ty T13 đem về nộp lại cho Công ty. Vào ngày 15/11/2022, Trần Bảo L được Công ty giao 87 phiếu tương ứng với số tiền phải thu là 92.104.000 đồng, L đi thu được tiền 42 phiếu thu của 42 khách hàng với tổng số tiền là 43.552.000 đồng, 45 phiếu thu còn lại L đưa cho Nguyễn Văn X2 đi thu hộ, sau đó L bỏ về quê ở thành phố Cần Thơ, không giao nộp lại số tiền 43.552.000 đồng cho Công ty mà dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Đối với Nguyễn Văn X2, sau khi lấy thêm 45 phiếu thu từ L, X2 đưa cho một người tên T12 (không rõ lai lịch, là nhân viên cũ của công ty T13 đã nghỉ việc từ tháng 10/2022) 06 phiếu thu các khách hàng ở khu vực huyện B được 8.220.000 đồng, còn Xe giữ lại 128 phiếu thu và đã đi thu của 125 khách hàng được tổng số tiền 139.392.000 đồng. Sau đó, X2 và T12 cũng bỏ trốn không đem tiền thu được về giao nộp cho công ty T13.
Hành vi của Trần Bảo L lợi dụng nhiệm vụ được giao chiếm đoạt tài sản mà bị cáo có trách nhiệm quản lý của Công ty T13 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 43.552.000 đồng, bị cáo đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo thực hiện đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của tổ chức kinh tế, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp bị thiệt hại, suy yếu, mất uy tín. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm nhằm có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Bảo L không phạm phải.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động để gia đình (cha, mẹ bị cáo) bồi thường cho phía bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp cho bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử quyết định mức phạt khác.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Công ty T13 số tiền 20.000.000 đồng, tại phiên tòa, đại diện hợp pháp bị hại ông Phạm Ký N không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại, do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Đối với Nguyễn Văn X2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Bảo L phạm tội “Tham ô tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 353, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bảo L 02 (hai) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2023.
2. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Bảo L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |
Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản
- Số bản án: 127/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
