|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2024/DS-PT
Ngày 12/12/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Trần Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 73/2024/DSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 151/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1980, địa chỉ: Số D đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, địa chỉ: Số C đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1991, địa chỉ: Số A đường N, tổ F, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh H1, địa chỉ: Số D đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1993, địa chỉ: Số C đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1996, địa chỉ: Số C đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Anh Bùi Trần H2, sinh năm 1992, địa chỉ: Số C đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Anh Phạm Ngọc S, sinh năm 1993, địa chỉ: Số A đường N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Ý kiến của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai H
Do quen biết, nên vào năm 2018 tôi có cho bà Nguyễn Thị Đ vay 1.500.000.000 đồng để làm ăn, (lãi suất theo thỏa thuận bà Định đề X). Đến năm 2019 bà Đ tiếp tục vay thêm số tiền 200.000.000 đồng để giải quyết công việc gia đình, số tiền này tôi và bà Đ cũng đã thống nhất bà Đ phải trả lãi theo thỏa thuận trước đây. Tuy nhiên, bà Đ chỉ trả lãi theo thỏa thuận của vài tháng cuối năm 2018, đến năm 2020, 2021 biết tin chồng bà Đ bị đau nặng tôi đã thỏa thuận lãi 12%/năm, bà Đ đồng ý đến năm 2022, nhiều lần tôi đã yêu cầu bà Đ trả tiền gốc và lãi cho tôi tuy nhiên bà Đ chưa có một lần nào trả lãi khoản tiền này cho tôi.
Hiện nay, tổng số tiền (gốc và lãi) bà Đ nợ tôi là 2.731.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm ba mươi mốt triệu đồng). Gần đây, tôi có nghe bà Đ trao đổi đã sang tên tài sản nhà đất cho con gái đứng tên, tôi cũng nhiều lần yêu cầu bà Đ trả lại khoản tiền trên nhưng bà Đ chỉ hứa hẹn, chưa một lần nào trả cho tôi.
Các phiên hòa giải trước đây tôi và bà Đ cũng đã nhiều lần thống nhất chốt nợ, tuy nhiên đều không thành.
Tại phiên Tòa hôm nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ phải trả cho tôi số tiền 2.731.000.000đ đồng theo biên bản đối chiếu nợ vay do bà H ký vào ngày 02/7/2023 và tiền lãi tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/6/2024.
Bà H đã nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình gồm:
- -01 Giấy mượn tiền vào ngày 18/01/2021 vay số tiền 1.700.000.000₫ và 01 bản đối chiếu vay nợ ngày 02/7/2023.
1.2. Ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ
Tôi đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc bà Nguyễn Thị Mai H yêu cầu tôi phải trả cho bà số tiền 2.731.000.000đ và tiền lãi theo quy định kể từ ngày 01/7/2023.
Về yêu cầu này tôi có ý kiến như sau:
- Theo tôi biên bản đối chiếu nợ vay mà bà H nộp cho Tòa án không phải là tờ giấy này mà là tờ giấy khác. Vì tờ giấy này không đúng với thỏa thuận giữa tôi và chồng bà H và không đúng với số tiền nên tôi đã đề nghị vợ chồng bà H phải làm lại biên bản. Trong biên bản đúng có chữ viết tay của tôi (một bản đưa cho bà H - một bản tôi giữ) về việc các bên tạm tính tiền vay và đợi chồng bà H là ông Nguyễn Thanh H1 về để đối chiếu các khoản tiền tôi đã trả, những khoản mà ông H1 nhờ tôi làm và chưa trả lại cho tôi. Trước khi ký biên bản đối chiếu ông H1 là chồng bà H đã điện thoại động viên và nói với tôi là cứ ký biên bản đi để cho vợ em nó yên tâm rồi đợi em đi công tác về chị em mình tính cho rõ ràng. Thế nhưng vợ chồng ông H1 lại trở mặt sau khi tôi ký vào biên bản mà chính ông bà đã soạn sẵn điều này nói lên rằng ông bà đã có âm mưu tính toán từ trước mới vội vàng yêu cầu tôi đến nhà để ký biên bản. Để rồi sau đó mang giấy tờ này đi khởi kiện tôi ra Tòa án.
Tôi đề nghị bà H phải làm rõ số tiền mà bà yêu cầu là bao nhiêu? Vì theo như biên bản đối chiếu thì năm 2018 tôi vay của bà H 1.500.000.000₫ và năm 2019 tôi vay của bà H 200.000.000đ. Còn lãi các năm 2019, 2020, 2021, 2022 tôi chưa trả tiền lãi cho bà H. Việc bà H nêu ở đơn khởi kiện và trong biên bản cung cấp cho Tòa án là hoàn toàn sai sự thật. Tôi còn nhớ khoảng tháng 02 năm 2023 tôi có viết cho bà H (ông H1) một giấy vay tiền với số tiền nợ là 1.700.000.000đ (trong đó có cả gốc và lãi). Hiện tờ giấy này vợ chồng ông H1 vẫn chưa đưa lại cho tôi.
Về số tiền mà bà H nêu trên, đây là khoản tiền ông H1 là chồng bà H hùn hạp, đưa vốn cho tôi để làm các dịch vụ đáo hạn ngân hàng, cho vay...chứ không phải là khoản tiền mà bà H cho tôi vay như lời bà trình bày trong đơn. Để làm rõ số tiền, tôi đề nghị Tòa án mời chồng bà H là ông Nguyễn Thanh H1 lên để các bên nói rõ trắng đen, đối chất để xem có hay không việc vay mượn giữa tôi và bà H. Khi ông H1 đưa tiền góp vốn làm ăn thì giữa chúng tôi có thỏa thuận lãi sẽ chia đôi còn lỗ thì cùng chịu, vậy cớ sao bây giờ vợ chồng ông H1 bà H lại đem sự tự tin của tôi để gài bẫy tôi ký vào biên bản tạm tính tiền vay do ông bà soạn sẵn mà đem nó ra Tòa để kiện tôi, còn ông bà muốn lấy lại tiền gửi tôi làm ăn thì cũng phải tính toán, đối chiếu lại với tôi cho kỹ càng chứ đừng làm trò gài bẫy người khác như vậy.
Mong muốn của tôi các bên nên ngồi lại xem tính toán cho kỹ càng nếu tôi còn thiếu tôi sẽ trả và nếu như ông H1 bà H còn thiếu thì phải trả lại cho tôi.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đức T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Đ xác định vào năm 2018 bà Đ có vay của bà Nguyễn Thị Mai Hạnh số tiền 1.500.000.000 đồng. Số tiền này được chuyển khoản thành nhiều lần và được thực hiện bởi bà H và chồng bà H là ông Nguyễn Thanh H1.
Kể từ thời điểm vay nợ cho đến nay, bà Đ đã trả nợ gốc và nợ lãi thành nhiều lần. Cụ thể:
- - Ngày 09/11/2018, bà Nguyễn Thị Phương T1 (con bà Đ) chuyển 20.000.000 đồng
- - Ngày 11/12/2018, bà Nguyễn Thị Đ chuyển 20.000.000 đồng
- - Ngày 08/03/2019, bà Nguyễn Thị Phương D(con bà Đ) chuyển 20.000.000 đồng
- - Ngày 22/04/2019, bà Nguyễn Thị Phương D(con bà Đ) chuyển 20.000.000 đồng
- - Ngày 24/06/2019, Ông Bùi Trần H2 (con rể bà Đ) chuyển 50.000.000 đồng.
- - Ngày 15/08/2019, ông Phạm Ngọc S (người quen của bà Đ) chuyển 600.000.000 đồng.
- - Ngoài ra, từ năm 2018 đến cuối năm 2020 bà Nguyễn Thị Đ còn nộp tiền tài khoản vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Mai H hàng tháng với số tiền không cố định.
Tổng cộng bà Đ đã thanh toán tiên gốc và tiền gốc và lãi với số tiền hơn 730.000.000 đồng. Các giấy chứng cứ về việc thanh toán nợ tôi đã giao nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Pleiku. Đề nghị Tòa án tiến hành sao kê tài khoản của bà Nguyễn Thị Mai H kể từ thời điểm 2018 đến cuối năm 2020 để đối chiếu khoản nợ đã trả cho phía nguyên đơn.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, bà Nguyễn Thị Đ có thực hiện việc làm giấy tờ nhà đất cho vợ chồng ông H1, bà H với các chi phí là 150.000.000 đồng. Đề nghị ghi nhận số tiền này vào tiền lãi.
Do đó, phía nguyên đơn cho rằng bà Nguyễn Thị Đ chưa trả tiền nợ gốc, nợ lãi cho phía nguyên đơn là không đúng.
Nay, bị đơn chỉ xác định còn nợ nguyên đơn tuy nhiên phải cấn trừ toàn bộ số tiền đã liệt kê ở trên vào tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã nộp đầy đủ các chứng cứ thể hiện bị đơn có trả gốc, lãi cho nguyên đơn: số tiền đã liệt kê ở trên vào tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán.
Việc trả nợ gốc và nợ lãi cho bà H cũng đã được phía bà Đ cung cấp chứng cứ là các biên lai chuyển tiền, thể hiện bà Đ đã thanh toán tổng cộng số tiền 730.000.000đ cho nguyên đơn, do đó bà H yêu cầu bà Đ thanh toán tiền lãi từ năm 2019 đế năm 2021 là không có cơ sở chấp nhận.
Vì vậy tôi đề nghị Tòa án chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn, cấn trừ toàn bộ số tiền 730.000.000₫ vào tiền gốc và lãi đã vay.
1.3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S
- Tôi và bà Nguyễn Thị Đ có mối quan hệ quen biết. Vào ngày 15/08/2019, bà Đ có hỏi vay tôi số tiền 600.000.000 đồng để trả nợ cho người quen. T2 đồng ý và được bà Đ cung cấp họ tên, số tài khoản của người nhận để chuyển tiền. Cùng ngày, tôi đến ngân hàng chuyển số tiền 600.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Mai H vào số tài khoản 5000205221325 Nông nghiệp và P.
- Việc bà Đ và bà H vay mượn như thế nào thì tôi không rõ. Tôi chỉ chuyển tiền trả nợ như bà Đ trao đổi.
- Sau khi nộp tiền vào tài khoản của bà H, tôi đưa cho bà Đ giữ giấy chuyển tiền này. Bà Đ cung cấp giấy chuyển tiền nói trên cho Tòa án là đúng.
- Nay bà H yêu cầu bà Đ phải trả nợ thì tôi đề nghị Tòa án ghi nhận số tiền 600.000.000 đồng là tiền mà bà Đ đã trả cho bà H. Trường hợp Tòa án không ghi nhận khoản tiền này thì tôi đề nghị Tòa án buộc bà H phải trả lại cho tôi toàn bộ số tiền nói trên để tôi trả lại cho bà Đ vi bà Đ đã thanh toán cho tôi số tiền đã vay.
1.4. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương T1
- Tôi và bà Nguyễn Thị Đ có mối quan hệ mẹ con. Tôi thường được bà Đ đưa tiền để trả nợ. Vào ngày 09/11/2018, bà Đ có đưa cho tôi tiền mặt là 20.000.000 đồng để đến ngân hàng trả nợ cho bà Nguyễn Thị Mai H vào số tài khoản 0516205040640 Nông nghiệp và P.
- Việc bà Đ và bà H vay mượn như thế nào thì tôi không rõ. Tôi chỉ chuyển tiền giúp bà Đ.
- Sau khi nộp tiền vào tài khoản của bà H, tôi đưa cho bà Đ giữ giấy chuyển tiền này. Bà Đ cung cấp giấy chuyển tiền nói trên cho Tòa án là đúng.
- Nay bà H yêu cầu bà Đ phải trả nợ thì tôi đề nghị Tòa án ghi nhận số tiền 20.000.000 đồng là tiền mà bà Đ đã trả cho bà H.
Trên đây là ý kiến của tôi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.5. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương D
- Tôi và bà Nguyễn Thị Đ có mối quan hệ mẹ con. Tôi thường được bà Đ đưa tiền để trả nợ. Vào ngày 08/03/2019 và ngày 22/04/2019, bà Đ có đưa cho tôi tiền mặt mỗi lần 20.000.000 đồng tổng cộng 40.000.000 đồng để đến ngân hàng trả nợ cho bà Nguyễn Thị Mai H vào số tài khoản 0516205040640 Nông nghiệp và P.
- Việc bà Đ và bà H vay mượn như thế nào thì tôi không rõ. Tôi chỉ chuyển tiền giúp bà Đ.
- Sau khi nộp tiền vào tài khoản của bà H, tôi đưa cho bà Đ giữ 02 giấy chuyển tiền này. Bà Đ cung cấp 02 giấy chuyển tiền nói trên cho Tòa án là đúng.
- Nay bà H yêu cầu bà Đ phải trả nợ thì tôi đề nghị Tòa án ghi nhận số tiền 40.000.000 đồng là tiền mà bà Đ đã trả cho bà H.
Trên đây là ý kiến của tôi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.6. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Trần H2
- Tôi và bà Nguyễn Thị Đ có mối quan hệ mẹ vợ-con rế. Tôi thường được bà Đ đưa tiền để trả nợ. Vào ngày 24/06/2019, bà Đ có đưa cho tôi tiền mặt 50.000.000 đồng để đến ngân hàng trả nợ cho bà Nguyễn Thị Mai H vào số tài khoản 0516205040640 Nông nghiệp và P.
- Việc bà Đ và bà H vay mượn như thế nào thì tôi không rõ. Tôi chỉ chuyển tiền giúp bà Đ.
- Sau khi nộp tiền vào tài khoản của bà H, tôi đưa cho bà Đ giữ giấy chuyển tiền này. Bà Đ cung cấp giấy chuyển tiền nói trên cho Tòa án là đúng.
- Nay bà H yêu cầu bà Đ phải trả nợ thì tôi đề nghị Tòa án ghi nhận số tiền 50.000.000 đồng là tiền mà bà Đ đã trả cho bà H.
Trên đây là ý kiến của tôi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên Tòa bà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ phải trả cho nguyên đơn số tiền 2.731.000.000đ đồng theo biên bản đối chiếu nợ vay do bà H ký vào ngày 02/7/2023 và tiền lãi tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/7/2024.
Tại phiên Tòa nguyên đơn nộp bổ sung chứng từ sao kê tài khoản Ngân hàng số tài khoản 5000205221325 mở tại N và PTNTVN chi nhánh G và số tài khoản 5016205040640 mở tại Ngân hàng P, chi nhánh D1, Đông G đều mang tên bà Nguyễn Thị Mai H thời gian sao kê đều cùng từ ngày 03/10/2018 đến ngày 31/12/2021.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu trừ số tiền 730.000.000₫ vào tiền nợ gốc và nợ lãi, ngoài ra còn yêu cầu ông Nguyễn Thanh H1 trừ số tiền 150.000.000₫ là tiền chi phí đóng thuế làm giấy tờ nhà đất cho ông H1 và bà H.
Ông Nguyễn Thanh H1 không nhất trí với yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, nếu bà Đ có chứng cứ về việc chuyển số tiền 150.000.000₫ cho tôi thì đề nghị bà Đ chứng minh và yêu cầu bà Đ khởi kiện tôi trong vụ án khác.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70, Điều 72; Điều 92; Điều 96; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mai H.
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị Mai H số tiền số tiền là 2.938.966.422đ (Hai tỷ chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng) trong đó tiền nợ gốc là 1.700.000.000đ (một tỷ bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi là 1.238.966.422đ (một tỷ hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 90.779.328đ (Chín mươi triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn, ba trăm hai mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Mai H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mai H số tiền 43.310.000 (bốn mươi ba triệu ba trăm mười nghìn đồng) đã tạm nộp án phí trước đây theo biên lai số 0001106 ngày 19/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP ., tỉnh Gia Lai.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 23/7/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo bản án số 73/2024/DSST ngày 11/7/2024 của TAND thành phố Pleiku đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án.
Ngày 23/7/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S kháng cáo đề nghị ghi nhận số tiền 600.000.000đ tiền mà bà Đ đã trả cho bà H. Trường hợp không ghi nhận đề nghị buộc bà H trả cho ông S số tiền 600.000.000đ.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai H, và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có ý kiến gì khác. Đối với số ngày tính tiền lãi tại cấp sơ thẩm có sai sót, cấp sơ thẩm tính 367 ngày nhưng trên thực tế là 376 ngày tuy nhiên vấn đề này nguyên đơn không có yêu cầu và chấp nhận số ngày 367 như bản án đã tuyên. Do vậy để ổn định bản án đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày biên bản đối chiếu nợ vay là do ông H1 chồng bà H soạn sẵn nhưng số nợ không đúng thực tế. Bà Đ có ký vào biên bản này tuy nhiên số tiền nợ và lãi không đúng.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S trình bày có chuyển khoản cho bà Đ số tiền 600.000.000₫ do bà Đ mượn để chuyển trả cho chị H.
- - Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với số liệu tính toán các ngày lãi bị sai sót tại phiên tòa nguyên đơn không có yêu cầu và đồng ý chấp nhận số ngày 367 như bản án đã tuyên nên đề nghị giữ nguyên bản án để đảm bảo tính ổn định.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 2.731.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/7/2024.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm có “Giấy mượn tiền” ghi ngày 18/01/2021 có chữ kỹ và ghi tên “Nguyễn Thị Đ” và “BIÊN BẢN ĐỐI CHIẾU NỢ VAY” ghi ngày 02/7/2023 có chữ kỹ và ghi tên “Nguyễn Thị Mai H” và “Nguyễn Thị Đ” (BL 02)
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ xác định bà chỉ vay của bà Nguyễn Thị Mai H số tiền 1.500.000.000 đồng vào năm 2018 và cho rằng đã trả tiền gốc và tiền lãi thông qua hình thức trả trực tiếp và chuyển khoản với số tiền hơn 730.000.000 đồng. Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp sao kê chuyển khoản của bà Nguyễn Thị Phương T1, Nguyễn Thị Phương D và Bùi Trần H2.
Xét thấy, các khoản tiền mà các ông bà Nguyễn Thị Phương T1, Nguyễn Thị Phương D và Bùi Trần H2 đã chuyển khoản cho bà H được thực hiện trước thời điểm bà H và bà Định tính T3 chốt công nợ nên việc bà Đ cho rằng các khoản tiền này được trừ vào tiền gốc và tiền lãi của số tiền mà bà Đ vay của bà H là không có căn cứ.
Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận buộc bà Đ phải trả cho bà H số tiền gốc 1.700.000.000₫ là có căn cứ, phù hợp với tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
[2.2] Đối với tiền lãi:
Căn cứ vào “BIÊN BẢN ĐỐI CHIẾU NỢ VAY” ghi ngày 02/7/2023, có căn cứ xác định tiền lãi vay năm 2020 (12% năm) được tính trên số tiền 1.835.000.000 đồng (gồm tiền gốc 1.7000.000.000 đồng và tiền lãi của năm 2019 là 135.000.000 đồng), tương tự với các năm 2021, 2022 và 06 tháng năm 2023 (12%/năm), việc tính tiền lãi được tính trên tổng tiền gốc cộng với tiền lãi thời điểm liền kề phía trước, tuy nhiên đây là biên bản đối chiếu công nợ dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, đồng thời mức lãi suất là phù hợp không vượt quá 20% /năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Vì vậy có căn cứ buộc bà Đ phải trả cho bà H số tiền tính đến ngày 30/6/2023 gốc và lãi là 2.731.000.000đ (trong đó nợ gốc là 1.700.000.000₫ và nợ lãi là 1.031.000.000₫)
Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn từ ngày chốt nợ ngày 30/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 01/7/2023 đến ngày 11/7/2024) là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên cấp sơ thẩm tính 367 ngày là có sai sót về lỗi tính toán, từ ngày 01/7/2023 đến ngày 11/7/2024 là 376 ngày. Vấn đề này tại phiên tòa nguyên đơn không có ý kiến sửa chữa và đồng ý không tính thêm 9 ngày chênh lệch này, đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm quy định pháp luật và có lợi cho phía bị đơn nên để ổn định bản án, cần giữ nguyên bản án về phần tính lãi.
[3] Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S đề nghị ghi nhận số tiền 600.000.000 đồng tiền mà bà Đ đã trả cho bà H, trường hợp không ghi nhận đề nghị buộc bà H trả cho ông S số tiền 600.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Vào ngày 15/8/2019, bà Đ có vay của ông S số tiền 600.000.000 đồng để trả nợ cho bà H, sau đó ông S đã chuyển khoản vào số tài khoản của bà H số tiền 600.000.000 đồng với nội dung “Phạm Ngọc S chuyển tiền mua hàng”. Bà Đ, ông S đều xác định có việc vay này, có chuyển tiền cho bà H. Bà H cũng thừa nhận có khoản tiền này thời điểm chuyển là 15/8/2019.
Xét trong các lần chốt nợ, ngày 18/1/2021 bà Đ chốt nợ lại với bà H tại “giấy mượn tiền” (BL85); đến ngày 02/7/2023 tại “bản đối chiếu nợ vay” (BL02) giữa bà H và bà Đ một lần nữa chốt nợ nhưng không nhắc đến khoản trả nợ 600.000.000đ này. Ngoài ra, tại các bản tự khai bà Đ khẳng định có nợ bà H số tiền 1.700.000.000đ. Do đó, có căn cứ xác định số tiền 600.000.000 đồng được trừ vào những khoản tiền vay mượn giữa các bên phát sinh trước thời điểm chốt công nợ nên việc ông S kháng cáo là không có căn cứ chấp nhận. Trường hợp ông S có yêu cầu khởi kiện đòi khoản tiền này thì ông S sẽ khởi kiện người có nghĩa vụ phải trả cho mình (người đã giao dịch vay mượn) bằng một vụ án kiện khác.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S.
[4]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do bản án sơ thẩm giữ nguyên nên bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70, Điều 72; Điều 92; Điều 96; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
- Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 73/2024/DSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai H với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mai H.
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị Mai H số tiền số tiền là 2.938.966.422đ (Hai tỷ chín trăm ba mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng) trong đó tiền nợ gốc là 1.700.000.000đ (một tỷ bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi là 1.238.966.422đ (một tỷ hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Về án phí sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 90.779.328đ (Chín mươi triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn, ba trăm hai mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Mai H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Mai H số tiền 43.310.000 (bốn mươi ba triệu ba trăm mười nghìn đồng) đã tạm nộp án phí trước đây theo biên lai số 0001106 ngày 19/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP ., tỉnh Gia Lai.
- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm và đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000299 ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Ông Phạm Ngọc S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000313 ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 127/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 127/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ. 2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 73/2024/DSST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai H với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
