TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2024/HS-ST Ngày 12-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Đình Lập
Ông Đàm Văn Sự
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Thế Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Mộng, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 543/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Vương Thị C
(Tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 25/04/1982 tại Q, Q, Cao Bằng.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn M (Đã chết) và bà Vương Thị T (Đã chết), có chồng là Trần Ánh D, sinh năm 1977 và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 chị em. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/06/2024 đến nay hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Văn B – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh C; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ánh D, sinh năm 1977, địa chỉ: Xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 06 giờ 30 phút ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại khu vực mốc 890 đến mốc 891 thuộc xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng, tổ tuần tra Đồn Biên phòng Q chủ trì phối hợp với Công an xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Vương Thị C, sinh năm 1982, trú tại xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, Cao Bằng đang điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 11U1-019.38 chở con gái C là Trần Ánh N, sinh năm 2012 (cùng địa chỉ) và một người phụ nữ là Hà Thị K (sinh ngày: 22/7/1988; trú tại: bản N, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái) vừa nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa người và phương tiện về trụ sở để tiếp tục làm rõ.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 27 tháng 6 năm 2024, Vương Thị C nhận được lời mời kết bạn từ 01 (một) người đàn ông Trung Quốc qua ứng dụng Wechat (tài khoản ghi chữ Trung Quốc). Cả hai trao đổi bằng tiếng dân tộc Nùng, người này đặt vấn đề thuê C đến khu vực biên giới xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng đón 01 (một) người phụ nữ Việt Nam nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam, tiền công do người phụ nữ trả nhưng chưa biết cụ thể là bao nhiêu và gửi kèm tài khoản Wechat của người phụ nữ Việt Nam để C kết bạn. Đến khoảng 04 giờ ngày 28 tháng 6 năm 2024, người đàn ông Trung Quốc gọi điện bảo C đi đón người đồng thời gửi định vị vị trí đón người nhập cảnh trái phép cho C. C gọi con gái ruột là Trần Bích N1 đi cùng nhưng không nói cho N1 biết là đi đâu, làm gì. Chăm sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11U1-019.38 từ nhà đi đến khu vực biên giới thuộc xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 05 giờ 30 phút, khi đến khu vực biên giới, C để xe máy ở bờ đường rồi cùng con gái đi bộ lên khu vực mốc biên giới theo định vị. Chờ khoảng 01 (một) tiếng đồng hồ thì có 01 (một) người phụ nữ đi bộ từ hướng Trung Quốc đến chỗ C, C sử dụng điện thoại quay video ghi hình người phụ nữ này và gửi cho tài khoản của người đàn ông Trung Quốc để xác nhận nhưng sóng yếu nên không gửi được. Sau đó, C dẫn người phụ nữ này xuống vị trí để xe máy. Quá trình di chuyển, cả hai thống nhất tiền công Chăm đưa người phụ nữ ra đến thị trấn T, huyện H, tỉnh Cao Bằng là 1.000 CNY (một nghìn nhân dân tệ), do không có tiền mặt nên người phụ nữ nói sẽ chuyển khoản sau. Khi đến chỗ để xe trước đó, C chở con gái và người phụ nữ di chuyển được khoảng 200m thì bị tổ tuần tra của Đồn Biên phòng Q phát hiện, bắt giữ.
2
Tại bản Cáo trạng số: 73/CT - VKSCB-P1 ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Vương Thị C về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vương Thị C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố là đúng với hành vi đã thực hiện.
Người có nghĩa vụ quyền lợi ông Trần Ánh D trình bày: Chiếc xe máy này là do ông mua từ năm 2013, do ông đứng tên làm chủ sở hữu, mua trả góp tại Cửa hàng mua bán xe máy tại Q, Cao Bằng. Ông đứng tên trả góp với cửa hàng và đã trả hết tiền. Chiếc xe này ông mua về phục vụ chung cho cả gia đình. Từ trước đến nay gia đình ông chỉ có một chiếc xe máy này để phục vụ nhu cầu đi lại của gia đình. Ông không biết việc vợ ông là Vương Thị C sử dụng xe máy để đón người nhập cảnh trái phép. Mong Hội đồng xét xử trả lại xe máy biển số 11U1-019.38 cho ông.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định quyết định truy tố đối với bị cáo Vương Thị C về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Thị C phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Thị C từ 12 - 15 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng : Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng của vụ án.
Tịch thu hóa giá Nhà nước:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo, có số Imei1: 864461051069473, số Imei2: 864461051069465, đã qua sử dụng.
3
- + Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị 01 xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đen-đỏ-xám, biển kiểm soát: 11U1-01938.
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Ánh D ½ giá trị 01 xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đen-đỏ-xám, biển kiểm soát: 11U1-01938, kèm 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002058 mang tên Trần Ánh D.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Trợ giúp pháp lý ông Bế Văn B trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với cáo trạng truy tố bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo có trình độ học vấn 9/12, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, sinh sống ở vùng có nhiều đường biên giới; hoàn cảnh gia đình bị cáo C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy bị tạm giữ là phương tiện duy nhất của gia đình để phục vụ sinh hoạt, đưa đón con nhỏ đi học. Nguồn tiền mua xe là do chồng bị cáo đi làm mà có, đề nghị trả toàn bộ xe cho ông D. Về án phí đề nghị cho bị cáo C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bị cáo không có lời bào chữa bổ sung, không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ánh D không có ý kiến tranh luận.
Đại diện viện Kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì thêm, vẫn giữ nguyên như đề nghị luận tội.
Trong lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật xử bị cáo mức án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị Vương Thị C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/06/2024, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung; Trích xuất dữ liệu điện tử từ chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo phát hiện Video do bị cáo ghi hình đối với người nhập cảnh trái phép và các nội dung tin nhắn thể hiện liên quan đến hành vi bị cáo thực hiện; phù hợp với lời khai của người nhập cảnh trái phép và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, Vương Thị C đã nhận lời của một người đàn ông Trung Quốc không biết tên, địa chỉ cụ thể tổ chức lên khu vực mốc biên giới đón 01 người phụ nữ nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam là Hà Thị K (sinh ngày: 22/7/1988, trú tại: bản N, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái) đưa ra đến thị trấn T, huyện H, tỉnh Cao Bằng để được trả tiền công 1.000 NDT. Khi C đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 11U1-019.38 chở theo K trên đường di chuyển từ khu vực biên giới ra thị trấn T thì bị Bộ đội Biên phòng Đồn Quang L, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh C phát hiện, bắt quả tang. Do không thực hiện trót lọt nên C chưa nhận được tiền công.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích để hưởng lợi về tiền công. Tuy bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định. Hành vi của Vương Thị C đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
5
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Việc bị cáo nhận đưa, đón người nhập cảnh trái phép không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề an ninh trật tự phức tạp và làm ảnh hưởng đến sự chỉ đạo của các ngành, các cấp về ngăn chặn, đấu tranh đối với các hành vi xuất, nhập cảnh qua biên giới.
Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội bị cáo là nghiêm trọng, cần quyết định một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tính răn đe, đủ điều kiện cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ cần xem xét chấp nhận.
Xét ý kiến của Người bào chữa về hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy bị cáo chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội, do đó không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
6
[6]. Việc xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước đối với bị cáo:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo, có số Imei1: 864461051069473, số Imei2: 864461051069465, đã qua sử dụng.
- + Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đen-đỏ-xám, biển kiểm soát: 11U1-01938, cơ quan Công an tạm giữ đối với bị cáo, chiếc xe này là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, xác định xe là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội, ông D không biết nên cần tịch thu hóa giá ½ giá trị của chiếc xe để sung công quỹ nhà nước và trả lại cho ông D ½ giá trị của xe.
[7]. Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông Trung Quốc thuê C đón người nhập cảnh trái phép, do C không biết thông tin về họ tên, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
Đối với Hà Thị K có hành vi nhập cảnh trái phép, Đồn Biên phòng Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là có căn cứ.
Đối với Trần Bích N1 do không liên quan đến hành vi phạm tội của C nên không đặt vấn đề xem xét xử lý
[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Vương Thị C phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vương Thị C 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn
7
chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/6/2024.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước đối với bị cáo:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo, có số Imei1: 864461051069473, số Imei2: 864461051069465, đã qua sử dụng.
- + ½ giá trị 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11U1-019.38, loại xe: Hai bánh từ 50- 175cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: Đen Đỏ, số máy: JC52E5257985, số khung: RLHJC5226CY748104, dung tích xi lanh: 109cm³, số chỗ ngồi: 2, trạng thái đăng ký xe: Đăng ký xe lần đầu (ngày đăng ký: 22/3/2013), xe đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết trầy xước đã cũ, yên xe đã bị rách, thùng nhiều chỗ (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe mô tô trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 05/7/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh C. Kèm theo: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002058 mang tên Trần Ánh D.
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Ánh D, sinh năm 1977, địa chỉ: Xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng: ½ giá trị 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11U1-019.38, loại xe: Hai bánh từ 50- 175cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: Đen Đỏ, số máy: JC52E5257985, số khung: RLHJC5226CY748104, dung tích xi lanh: 109cm³, số chỗ ngồi: 2, trạng thái đăng ký xe: Đăng ký xe lần đầu (ngày đăng ký: 22/3/2013), xe đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết trầy xước đã cũ, yên xe đã bị rách, thùng nhiều chỗ (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe mô tô trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 05/7/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh C.
Xác nhận toàn bộ vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 141 ngày 28 tháng 8 năm 2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
8
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vương Thị C được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo Vương Thị C có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Biên Hòa |
Bản án số 127/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 127/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 28 tháng 6 năm 2024, Vương Thị C đã nhận lời của một người đàn ông Trung Quốc không biết tên, địa chỉ cụ thể tổ chức lên khu vực mốc biên giới đón 01 người phụ nữ nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam là Hà Thị K (sinh ngày: 22/7/1988, trú tại: bản N L, xã N L, thị xã N L, tỉnh Y B) đưa ra đến thị trấn T N, huyện H L, tỉnh C B để được trả tiền công 1.000 NDT. Khi C đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 11U1-019.38 chở theo K trên đường di chuyển từ khu vực biên giới ra thị trấn T N thì bị Bộ đội Biên phòng Đồn Q L, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh C B phát hiện, bắt quả tang. Do không thực hiện trót lọt nên C chưa nhận được tiền công.
