Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/DS-PT

Ngày 12 tháng 6 năm 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Bà Triệu Thị Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất Tùng- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS- ST ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 102/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà A, tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn Ả, sinh năm 1946; địa chỉ: Số nhà A, tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Bùi Thị V, sinh năm 1948; (Vắng mặt)

+ Anh Trần Hải Q, sinh năm 1982; (Vắng mặt)

+ Chị Hoàng Thị Q1, sinh năm 1983; (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số nhà A, tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Ả, bà Bùi Thị V, anh Trần Hải Q và chị Hoàng Thị Q1: Ông Chu Ngọc T1, sinh năm 1975. Cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

+ Ủy ban nhân dân phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Duy T2 - Phó chủ tịch đại diện theo uỷ quyền theo Quyết định uỷ quyền số 127/QĐ-UBND ngày 10/8/2023. (Vắng mặt)

+ Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Thanh T3- Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B (nay là Trưởng phòng) đại diện theo uỷ quyền theo Quyết định uỷ quyền số 2220/QĐ-UBND ngày 06/6/2023. (Vắng mặt)

+ Ngân hàng N1; địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, Hà Nội. (Vắng mặt)

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1. Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng T4. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1- Chi nhánh thành phố B - Bắc GiangII (theo quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022); địa chỉ: Số G, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Phan Đình N, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án và tại phiên toà nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày: Phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219.2m², địa chỉ: tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số BU 575698, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00815. (sau đây viết tắt là thửa đất số 13). Thửa đất trên có nguồn gốc là do hợp tác xã giao cho gia đình chồng bà T từ năm 1988. Sau đó, gia đình bà đã xây dựng nhà ở và tường bao quanh thửa đất, sử dụng ổn định từ đó. Ngày 02/11/2005, gia đình bà được UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp GCNQSDĐ lần đầu số AD 096654, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H01103/QĐ số 149/QĐ-UB, tên chủ sử dụng đất ông Phan Văn L và bà Ngô Thị T (nguồn gốc đất do bố mẹ chồng bà cho thừa kế từ năm 2003). Ngày 20/8/2010, chồng bà là ông Phan Văn L chết. Ngày 09/5/2014, bà T được UBND thành phố B cấp đổi GCNQSDĐ số phát hành BU 575698, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00815, tên chủ sử dụng đất bà Ngô Thị T. Việc cấp đổi này chỉ thay đổi về tên chủ sử dụng đất từ hai vợ chồng sang thành tên một mình bà T, không làm thay đổi, biến động đến hình thửa, kích thước, diện tích của thửa đất.

Do điều kiện cuộc sống, bà T thường xuyên phải đi làm ăn xa, ít khi có nhà. Khoảng năm 2012 - 2013, ông Trần Văn Ả là hàng xóm nhà bà T, xây nhà trên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 29, diện tích 531.5m² đã được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/4/2009 cho hộ gia đình ông Trần Văn Ả (sau đây viết tắt là thửa đất số 12). Khi xây nhà, ông Ả đã tự ý đập bức tường rào cũ là ranh giới giữa hai thửa đất và xây dựng nhà mới đã lấn chiếm sang thửa đất số 13 của nhà bà T, cụ thể: diện tích đất lấn chiếm là 01 phần móng và tường nhà ông Ả; diện tích khoảng không lấn chiếm là 02 diện tích ô văng bê tông và 01 diện tích mái tôn của tầng 02 thuộc công trình nhà ở của ông Ả. Khi ông Ả xây nhà thì bà không có nhà nên không biết, sau khi phát hiện ra sự việc thì bà đã nhiều lần yêu cầu ông Ả tháo dỡ phần ô văng bê tông và mái tôn lấn chiếm sang phần không gian phía trên thửa đất của bà và tháo dỡ phần tường nhà phía trước để trả lại đất cho bà nhưng ông Ả không thực hiện dẫn đến tranh chấp.

Bà T xác định thửa đất có phần diện tích đất đang tranh chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu của cá nhân một mình bà, không liên quan đến ai khác. Năm 2014, con trai bà là Phan Mạnh T5, sinh năm 1989 và Phan Ngọc M, sinh năm 1993 năm 2014 đã có Văn bản phân chia di sản thừa kế để sang tên thửa đất đang tranh chấp cho một mình bà, nay các con bà đều đã xây dựng gia đình, ở riêng, không còn sinh sống cùng bà trên thửa đất đang tranh chấp nên bà xác định các con bà không liên quan đến việc tranh chấp này. Tại thời điểm khởi kiện, bà có thế chấp thửa đất đang tranh chấp tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố B - Phòng giao dịch số 01 theo hợp đồng thế chấp số 126TM/HĐTC ngày 27/01/2021 để vay tiền. Nhưng đến nay bà T xác định đã thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, xoá thế chấp và lấy GCNQSDĐ về.

Theo đơn khởi kiện ban đầu, bà T xác định phần diện tích đất đang tranh chấp (bị ông Ả lấn chiếm) có kích thước khoảng 2.4m² (dài khoảng 6m, rộng khoảng 0.04m); phần diện tích ô văng bê tông và diện tích mái tôn lấn sang khoảng không của nhà bà T là khoảng 6m² (có chiều rộng khoảng 0.06m, chiều dài khoảng 10m). Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc ngày 29/12/2023, thể hiện phần diện tích đất nhà ông Ả lấn chiếm của bà T có diện tích là 2.6m² là phần tường và chân móng nhà của nhà ông Ả tại vị trí tường nhà giáp ranh giữa hai nhà. Còn phần diện tích ô văng bê tông tầng 02 lấn sang khoảng không nhà bà có 02 đoạn: 01 đoạn có diện tích 0.5m², 01 đoạn diện tích 1.8m² và 01 diện tích mái tôn 2.5m². Bà T hoàn toàn nhất trí với kết quả thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 29/12/2023.

Nay bà T khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc ông Trần Văn Ả phải trả lại cho bà phần diện tích 2.6m² đất thuộc thửa đất số 13 đã lấn chiếm của bà và tháo dỡ toàn bộ công trình trên phần diện tích đất đã lấn chiếm này; buộc ông Ả phải tháo dỡ toàn bộ phần diện tích ô văng bê tông và mái tôn có tổng diện tích 4.8m² chồng lấn lên khoảng không gian đất đang sử dụng của nhà bà thuộc thửa đất số 13 theo kết quả đo đạc ngày 29/12/2023. Trường hợp công trình tường nhà ở kiên cố của ông Ả nằm trên phần diện tích đất lấn chiếm của nhà bà không thể tháo dỡ được thì bà cũng đồng ý nhận giá trị chênh lệch bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá ngày 14/3/2023. Ngoài ra, bà T không có yêu cầu nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn Ả trình bày: Về nguồn gốc hai thửa đất là do hợp tác xã nông nghiệp cấp cho ông Trần Văn Ả và ông Phan Văn B, lúc đó chưa có GCNQSDĐ. Vào thời điểm đó, ông Ả và ông B có thoả thuận cùng nhau hai gia đình cùng bớt mỗi bên 40cm để làm rãnh thoát nước chung. Năm 2008, ông xây dựng cho con trai ông là Trần Hải Q 01 căn nhà 02 tầng và ông vẫn để nguyên phần rãnh để hai hộ cùng sử dụng. Sau đó đến năm 2009, ông làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ và đã được cấp vào ngày 16/4/2009. Từ đó đến nay, hai gia đình chung sống vui vẻ, hoà thuận nhưng không hiểu lý do gì mà bà T lại kiện gia đình ông. Sau khi tìm hiểu ông được biết là bà T đã làm GCNQSDĐ vào năm 2014, đã cấp hết phần rãnh thoát nước của hai gia đình vào GCNQSDĐ của bà T. Hiện tại phần rãnh vẫn còn và gia đình hai hộ vẫn đang sử dụng chung. Về phần văng của gia đình ông có làm có làm đua ra 30cm ở tầng hai vẫn trong phạm vi của gia đình ông. Về phần 3m tường rào của ngôi nhà là ông xây hết phần móng trước ông có đào móng làm nhà, ngôi nhà ông xây giữa móng, còn phần tường rào ông xây mép móng. Vì vậy, nay phần tường rào mới nhô ra so với tường của ngôi nhà là 15cm.

Gia đình ông đã nhận được trích đo địa chính ngày 29/12/2023 của Công ty TNHH T8, cụ thể sơ đồ thế nào ông cũng không hiểu. Trước đây giữa nhà ông và nhà bà T có một rãnh nước do hai nhà chừa ra, đến nay móng của rãnh nước vẫn còn. Phần móng của rãnh nước giáp với đất nhà ông thì nhà ông đã phá đi và xây tường nhà lên, còn phần móng của rãnh nước giáp với đất nhà bà T vẫn còn. Về kích thước cụ thể của rãnh nước là bao nhiêu ông không nắm được, rãnh nước có nằm trong GCNQSDĐ của nhà ai hay không thì ông cũng không nắm được.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường M, thành phố B trình bày:

Nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 13: Ngày 21/11/2002, hộ gia đình bà T kê khai là đất ở trước năm 1990 không giấy tờ; ngày 08/3/2005 được UBND phường xác nhận là đất ở trước năm 1990, thừa kế năm 2003 phần đất do bố mẹ để lại, diện tích 219.2m² thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ địa chính số 29, đo đạc năm 1998, được UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ cho ông Phan Văn L và bà Ngô Thị T ngày 02/11/2005; ông Phan Văn L chồng bà T chết năm 2010, đến ngày 17/4/2014 gia đình bà Ngô Thị T thực hiện làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế qua đó toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất được tặng cho bà Ngô Thị T toàn quyền sử dụng và đứng tên trong GCNQSDĐ của thửa đất số 13.

Nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 12: có nguồn gốc là được Hợp tác xã cấp năm 1974 (không có giấy tờ) cho hộ ông Trần Văn H (bố đẻ ông Trần Văn Ả). Năm 1998, ông H đã kê khai, thiết lập hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ. Ngày 29/8/2002, UBND thị xã B đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Văn H tại GCNQSDĐ số W062282, diện tích 531.5m², trong đó 360m² đất ở; 171,5m² đất vườn. Năm 2008, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị D lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Ả, bà Bùi Thị V. Ngày 16/4/2009, UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ số AP236812 cho ông Trần Văn Ả, bà Bùi Thị V. Ông Ả đã xây dựng nhà, tường rào trên toàn bộ thửa đất, thời gian xây dựng theo gia đình cho biết vào khoảng năm 2007; thửa đất được cấp GCNQSDĐ theo đúng với hồ sơ địa chính, bản đồ đo năm 1998.

Về sự chênh lệch, biến động diện tích, hình thửa giữa hồ sơ kỹ thuật thửa đất và bản đồ địa chính của thửa đất đang tranh chấp: trong quá trình làm việc với hai hộ gia đình, tại buổi làm việc với UBND phường ông Trần Văn Ả cho biết lịch sử trước đây khi HTX N2 cấp đất cho gia đình ông thì giữa hai hộ gia đình ông và gia đình ông Phan Văn B (bố chồng bà T) có để lại một khe làm rãnh thoát nước nên ông mới làm văng nhà sang phần rãnh nước này. Qua kiểm tra hồ sơ phần đất rãnh như ông Ả trình bày ở trên không được thể hiện trên hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính đo vẽ năm 1998, 2009.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày:

Về việc cấp GCNQSDĐ số AD 096654 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219.2m² cho ông Phan Văn L, bà Ngô Thị T; GCNQSDĐ số BU575698 cho bà Ngô Thị T; GCNQSDĐ số W062282 cho hộ ông Trần Văn H tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 29, diện tích 531.5m², trong đó 360m² đất ở và 171,5m² đất vườn và GCNQSDĐ số AP236812 cho ông Trần Văn Ả, bà Bùi Thị V là đúng quy định của pháp luật.

Đối với GCNQSDĐ số AD 096654 do UBND thành phố B cấp ngày 02/11/2005 cho ông Phan Văn L và bà Ngô Thị T tại thửa đất số 13: Về diện tích thửa đất được cấp theo đúng diện tích theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1998 của phường M; về hình thể thửa đất khi vẽ trên GCNQSDĐ được làm bằng phương pháp thủ công, kích thước một số độ dài thửa đất được ghi số cộng các đoạn thửa đất. Tuy nhiên, kích thước các cạnh của thửa đất theo đúng kích thước trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU575698 do UBND thành phố B cấp ngày 09/5/2014 cho bà Ngô Thị T tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219,2m². Về diện tích thửa đất được cấp theo đúng diện tích theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1998 của phường M; về hình thể thửa đất được in trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kích thước một số độ dài thửa đất được ghi số cộng các đoạn thửa đất, tuy nhiên kích thước các cạnh của thửa đất theo đúng kích thước trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất.

Theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1998 của phường M sử dụng để cấp GCNQSDĐ đối với hai thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 13 cấp cho bà Ngô Thị T và thửa đất số 12 cấp cho ông Trần Văn Ả và bà Bùi Thị V thì không thể hiện rãnh thoát nước giữa hai thửa đất nêu trên.

Về sự biến động diện tích của hai thửa đất giữa hiện trạng sử dụng đất trên thực tế với so với hồ sơ kỹ thuật thửa đất theo kết quả đo đạc ngày 29/12/2023: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hai hộ gia đình đối với hai thửa đất trên là cơ sở pháp lý để xác định quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp. Do vậy, đề nghị Toà án căn cứ vào GCNQSDĐ đã được cấp cho hai hộ gia đình để xác định diện tích đất tranh chấp và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 trình bày:

Đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng vì bà T chưa vi phạm nghĩa vụ đối với hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này và đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Ngày 14/11/2023, bà Ngô Thị T đã trả hết nợ cho Ngân hàng.

Người làm chứng, ông Phan Đình N trình bày:

Ông đã sống gần nhà bà T và ông Ả lâu năm. Theo như ông được biết trước đây giữa đất nhà ông Ả và nhà bà T có tồn tại một rãnh nước do hai bên chừa ra còn cụ thể diện tích, kích thước của rãnh nước là bao nhiêu ông không nắm được, rãnh nước có nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà ai hay không thì ông cũng không biết. Hiện nay rãnh nước có còn hay không ông cũng không nắm được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập một số tài liệu, chứng cứ như sau:

- Tại biên bản làm việc ngày 26/4/2023, anh Phan Văn T6 và chị Phan Ngọc M là con trai và con gái của bà Ngô Thị T cùng trình bày: Anh chị được biết mẹ anh chị là bà Ngô Thị T khởi kiện đòi lại phần diện tích đất của thửa đất số thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219,2m², địa chỉ tại tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo GCNQSDĐ số BU 575698, số vào sổ cấp GCN H00815 tên chủ sử dụng đất Ngô Thị T bị gia đình ông Trần Văn Ả lấn chiếm. Anh chị xác định thửa đất và tài sản gắn liền với thửa đất trên là của mẹ anh chị bà Ngô Thị T. Anh chị đã xây dựng gia đình và ra ở riêng từ lâu, anh chị cũng không có công sức đóng góp, cũng không liên quan gì đến nhà đất nên anh chị đề nghị Toà án không đưa anh chị vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Trường hợp Toà án vẫn đưa anh chị vào tham gia tố tụng thì anh chị từ chối và xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

- Về việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản:

+ Ngày 14/3/2023, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với đất và tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 13, kết quả như sau: Áp vị trí 1, đường G, đoạn từ đường K đến đường Bà T7, đất ở có giá là 9.000.000 đồng/m²; trị giá đất ở chuyển nhượng tại địa phương là 15.000.000 đồng/m2.

+ Ngày 29/12/2023, Toà án tiến hành thẩm định tại chỗ và đo đạc lại diện tích đất tranh chấp, xác định: Trên phần diện tích đất tranh chấp có một phần tường giáp với tường nhà bà T là phần tường không thể tách rời của công trình nhà ở hai tầng kiên cố của hộ ông Trần Văn Ả không định giá được; phần diện tích ô văng bê tông (02 đoạn) và diện tích mái tôn chồng lấn lên khoảng không gian đất đang sử dụng của nhà bà T đã hết giá trị khấu hao, không định giá được. Trường hợp nhà ông Ả xây dựng tường nhà đúng theo GCNQSDĐ được cấp thì phần senô (phần ô văng bê tông) và mái lợp tôn tầng 02 chìa ra khỏi tường nhà là vi phạm. Do đây là bộ phận gắn liến với công trình nhà 02 tầng nên không định giá được và việc tháo dỡ bộ phận công trình vi phạm không ảnh hưởng đến kết cấu và giá trị sử dụng của căn nhà. Đối với phần tường nhà và móng nằm trên phần diện tích đất tranh chấp là một phần tường nhà của công trình nhà ở kiên cố của hộ ông Trần Văn Ả, không thể tháo dỡ.

Sau khi có kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, Tòa án đã thông báo kết quả cho các đương sự được biết không ai có ý kiến gì.

Tòa án đã giao thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Ả, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V, anh H1, chị Q1. Nhưng các đương sự trên không đến Tòa án để lam việc và tham gia hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Với nội dung trên, bản án dân sự số 01/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị T.
    1. Xác nhận diện tích 2.6m² đất ông Trần Văn Ả đã lấn chiếm thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219.2m², địa chỉ: tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 575698 ngày 09/5/2014, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00815, tên chủ sử dụng đất bà Ngô Thị T. Diện tích đất thuộc vị trí (4), được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-20-19-18-17-16-9-10-21-22-1 trên sơ đồ kèm theo bản án.
    2. Giao cho ông Trần Văn Ả sử dụng diện tích 2.6m² đất đã lấn chiếm thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 29, diện tích 219.2m², địa chỉ: tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 575698 ngày 09/5/2014, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00815, tên chủ sử dụng đất bà Ngô Thị T.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 17/01/2024, nguyên đơn bà Ngô Thị T làm đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, bà K đồng ý việc Tòa án tuyên giao cho ông Ả sử dụng diện tích 2,6m² đất đã lấn chiếm của gia đình bà và buộc ông Ả trả bà số tiền 39.000.000 đồng, yêu cầu ông Ả trả bà bằng hiện vật, bà không đồng ý nhận bằng tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Ngô Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Bị đơn là ông Trần Văn Ả, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị V, anh Trần Hải Q và chị Hoàng Thị Q1 do ông Chu Ngọc T1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của bà T.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà Ngô Thị T, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của Ủy ban nhân dân phường M, Ủy ban nhân dân thành phố B, Ngân hàng N1 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Xét nội dung vụ án HĐXX thấy: Bà T khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Trần Văn Ả phải trả lại diện tích đất 2.6m² đã lấn chiếm thuộc thửa đất số 13. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng và biến động của thửa đất đang tranh chấp: Việc UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn Ả ngày 16/4/2009 và bà Ngô Thị T năm 2014 là đúng quy định của pháp luật. Đến thời điểm hiện tại, không ai có ý kiến khiếu nại hay khởi kiện gì đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên. Do vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất là căn cứ để xác định diện tích đất tranh chấp trên thực tế.

Tại buổi thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 29/12/2023, theo sự dẫn đạc của bà T, kết quả đo đạc có sự thay đổi so với kết quả đo ngày 14/3/2023 là do sự chỉ dẫn hai thời điểm là khác nhau. Thời điểm ngày 14/3/2023, hai hộ xác định ranh giới hiện trạng đang sử dụng giữa hai nhà là tường nhà của hộ ông Ả. Không đồng ý với kết quả đo đạc ngày 14/3/2023 nên bà T yêu cầu đo đạc lại. Tại thời điểm ngày 29/12/2023 bà T dẫn đạc lại và xác định ranh giới hiện trạng theo móng nhà của hộ ông Ả đã xây dựng. Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 29/12/2023, hộ ông Ả đã xây dựng nhà ở và móng nhà chồng trên phần diện tích 2, 6m² đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T (thuộc vị trí 4 được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-20-19-18-17-16-9-10-21-22-1, vị trí điểm mốc và khoảng cách chiều dài cạnh thửa được thể hiện trên Sơ đồ vị trí tranh chấp kèm theo kết quả đo đạc ngày 29/12/2023).

Trên sơ đồ vị trí tranh chấp, khu vực vị trí số (5) là phần diện tích đang sử dụng của bà T được giới hạn bởi các điểm 12-13-14-12 (vị trí tại phần tường rào phía trước hai nhà, giáp với đường giao thông); phần diện tích này nằm ngoài GCNQSDĐ đã cấp của bà T. Tại phiên toà bà T nhất trí với kết quả đo đạc ngày 29/12/2023 và không yêu cầu xem xét giải quyết đối với phần diện tích đất tranh chấp này nữa.

Về sự biến động chiều dài cạnh thửa 8.44m (cạnh giáp đường giao thông, phía trước nhà bà T) nêu trên GCNQSDĐ đã cấp cho bà T nay đo đạc lại kết quả đo là 8,25m (được tính từ mép ngoài trụ cổng của bà T tới mép ngoài trụ tường xây của nhà ông Ả - đã được đánh sơn chỉ vạch rõ ràng tương ứng với vị trí từ điểm mốc số 8 đến điểm mốc số 9 trên kết quả trích đo hiện trạng thửa đất ngày 29/12/2023): Sự thay đổi về chiều dài cạnh thửa là do đã có sự thay đổi về ranh giới, mốc giới thửa đất từ thời điểm cấp GCNQSDĐ lần đầu so với hiện trạng đang sử dụng của bà T. Khoảng cách 8,44m trên GCNQSDĐ đã cấp của bà T được tính từ vị trí cách cột trụ trường xây nhà ông Ả 0,46m về phía Nam; 0,12m về phía Tây đến vị trí cách trụ cổng nhà bà T 0,66m về phía Bắc; 0,54 m về phía Đông. Căn cứ các tài liệu đo đạc bản đồ hiện trạng và hồ sơ cấp GCNQSDĐ của bà T thì phần trụ tường xây của nhà ông Ả (điểm mốc ví trí số 9 trên kết quả trích đo hiện trạng thửa đất ngày 29/12/2023) nằm ngoài ranh giới cấp GCNQSDĐ của bà T. Nên việc bà T cho rằng hộ ông Ả lấn chiếm phần 0,19m chênh lệch của số liệu chiều dài cạnh 8,44m trên GCNQSDĐ và 8,25m theo kết quả đo đạc hiện trạng là không có căn cứ.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất của hai thửa đất của Công ty TNHH T8 được chồng ghép giữa kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất với kết quả hồ sơ kỹ thuật thửa đất cấp GCNQSDĐ, thể hiện việc sử dụng đất của ông Trần Văn Ả đã xây dựng tường công trình nhà ở kiên cố sang thửa đất số 13 của bà Ngô Thị T tại phần giáp ranh phía Tây Nam tại vị trí 4 (theo sơ đồ đo đạc ngày 29/12/2023) diện tích là 2,6m² và phần mái tôn, ô văng bê tông của công trình nhà lấn sang phần không gian thửa đất số 13 đã được cấp GCNQSDĐ cho bà T (diện tích, kích thước cụ thể được thể hiện tại vị trí 1,2,3 trên sơ đồ kết quả trích đo hiện trạng thửa đất ngày 29/12/2023).

Bản án sơ thẩm, buộc ông Trần Văn Ả phải trả lại phần diện tích 2.6m² đất đã lấn chiếm thuộc thửa đất số 13 cho bà Ngô Thị T. Tuy nhiên, phần diện tích đất lấn chiếm ông Ả đã xây dựng tường công trình nhà ở kiên cố, phần đất có lấn chiếm không nhiều, nên cần buộc ông Trần Văn Ả trả giá trị bằng tiền tương ứng với trị giá diện tích lấn chiếm như bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bà T HĐXX thấy: Như đã phân tích ở trên, phần diện tích đất lấn chiếm ông Ả đã xây dựng tường công trình nhà ở kiên cố, phần đất có lấn chiếm không nhiều, do vậy bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Ả trả giá trị bằng tiền tương ứng với trị giá diện tích lấn chiếm là phù hợp. Do vậy, HĐXX phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà T.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2024/DS- ST ngày 05/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  2. Về án phí: Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001574 ngày 23/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân TP Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/DS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 127/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger