Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/DS-ST

Ngày 07-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Cẩm Thanh

Ông Trần Thiện Thuần

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm Sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 370/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P; Trụ sở chính: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp:

Bà Trần Hồng N - Trưởng nhóm thu hồi nợ. (Có mặt)

Ông Nguyễn Trung H – Chuyên viên thu hồi nợ hiện trường. (Vắng mặt)

Ông Liêu Thái H1 – Chuyên viên thu hồi nợ. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng 1,2 Toà nhà Hòa Bình B, số A, đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo uỷ quyền, theo văn bản uỷ quyền số 11/2024/UQ-OCB ngày 20/02/2024.

- Bị đơn: Bà Hà Mỹ D, sinh năm: 1993. Địa chỉ 542/95 Nguyễn H2, Khóm D, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Trung T, sinh năm: 1976. (Có mặt)

Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm: 1977. (Vắng mặt có đơn vắng mặt)

Cùng địa chỉ: số C đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 20/02/2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P (sau đây viết tắt là Ngân hàng), trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trần Hồng N trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần P – Chi nhánh S, Phòng G với bà Hà Mỹ D đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021 và Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021, để vay số tiền 1.200.000.000 đồng; mục đích vay: mua bất động sản; thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất vay trong 03 tháng đầu là 12% năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 28/03/2022 theo công thức tỉnh lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ lãi suất (2). Trong đó: Lãi suất cơ sở (1): Là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ; Biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 4,5%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²); địa chỉ: Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 được Văn phòng công chứng Lý Chenl, tỉnh Sóc Trăng công chứng hợp đồng, số công chứng 2529, quyền số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

Khi nhận thế chấp, Ngân hàng đã xuống xem xét, thẩm định tài sản thế chấp, khi đó, trên đất đã có căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng gắn liền trên đất diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m; khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole của bà D (nhà chưa được công nhận quyền sở hữu). Do căn nhà này chưa được công nhận quyền sở hữu nên bà D đã làm văn bản cam kết ngày 24/12/2021 đồng ý thế chấp căn này cho Ngân hàng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận của hợp đồng. Tính đến ngày 07/8/2024, bà D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 1.522.329.517 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.165.000.000 đồng, lãi trong hạn 303.002.443 đồng, lãi quá hạn: 24.302.938 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.024.136 đồng).

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần P yêu cầu Toà án giải quyết:

Buộc bà D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 07/8/2024 là 1.522.329.517 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.165.000.000 đồng, lãi trong hạn 303.002.443 đồng, lãi quá hạn: 24.302.938 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.024.136 đồng)

Kể từ ngày 08/8/2024, bà D còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi bà D hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.

Nếu bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 để thu hồi nợ, gồm:

  • - Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²), địa chỉ: Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021.
  • - Tài sản gắn liền trên đất là căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m, khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole (nhà chưa được công nhận quyền sở hữu).

Ý kiến của bị đơn bà Hà Mỹ D:

Bà D thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc bà có ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P Chi nhánh S, Phòng G Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021 và Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021, để vay số tiền 1.200.000.000 đồng. Các thoả thuận trong hợp đồng theo như nguyên đơn trình bày là đúng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà D đã dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²), địa chỉ: Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S tỉnh Sóc Trăng gắn liền trên đất, diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m, khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole thuộc quyền sở hữu của bà D (nhà chưa được công nhận quyền sở hữu), theo Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 được Văn phòng công chứng Lý Chenl, tỉnh Sóc Trăng công chứng hợp đồng, số công chứng 2529, quyền số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Hiện nhà và đất do ông Trần Trung T và bà Trần Thị Mỹ L đang quản lý sử dụng.

Sau khi vay, do làm ăn khó khăn nên bà D mới trả cho Ngân hàng được 07 kỳ với tổng số tiền là 125.807.160 đồng (trong đó vốn là 35.000.000 đồng; lãi là 90.807.160 đồng) từ kỳ thứ 8 (ngày 10/8/2022) đến nay, bà D không trả tiền vốn và tiền lãi vay cho Ngân hàng. Tính đến ngày 07/8/2024, bà còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 1.522.329.517 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.165.000.000 đồng, lãi trong hạn 303.002.443 đồng, lãi quá hạn: 24.302.938 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.024.136 đồng) và đồng ý thanh toán cho Ngân hàng số tiền này.

Trường hợp, bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì bà đồng ý cho Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ nhà và đất nêu trên để thu hồi nợ.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Trung T:

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²) và căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng gắn liền trên đất thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của bà D (nhà chưa được công nhận quyền sở hữu), diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m; khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole; theo Giấy chứng nhân Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 hiện do ông và bà Trần Thị Mỹ L đang quản lý sử dụng.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông cũng thống nhất. Trường hợp bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì ông T đồng ý cho Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ nhà và đất nêu trên để thu hồi nợ.

Tại đơn vắng mặt ngày 12/7/2024 bà Trần Thị Mỹ L trình bày:

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 hiện do ông Trần Trung T và bà đang quản lý sử dụng. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà L thống nhất.

Trường hợp bà D không có khả năng trả nợ thì bà L đồng ý cho Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 để ngân hàng thu hồi nợ.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70, 71, 72, 73 và 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Hà Mỹ D, cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 1.522.329.517 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ nhất nhưng vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P về việc yêu cầu bà D trả số tiền gốc và lãi là 1.522.329.517 đồng, thấy rằng:

[3.1] Tại hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất, Ngân hàng đã cho bà D vay số tiền 1.200.000.000 đồng, mục đích vay: mua bất động sản. thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất vay trong 03 tháng đầu là 12% năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 28/03/2022 theo công thức tỉnh lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ lãi suất (2). Trong đó: Lãi suất cơ sở (1): Là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ; Biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 4,5%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. và ngân hàng đã giải ngân cho bà D nhận đủ số tiền 1.200.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản, theo Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

[3.2] Về tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần P ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P - Chi nhánh S, Phòng G giao kết hợp đồng với bà D thông qua người đại diện hợp pháp của Ngân hàng, Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

[3.3]. Ngân hàng đã giải ngân cho bà D nhận đủ số tiền vốn vay là 1.200.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021. Tuy nhiên, bị đơn bà D đã không thực hiện việc trả tiền vốn và lãi vay theo thỏa thuận. Tính đến nay, bà D mới trả cho Ngân hàng được 07 kỳ với tổng số tiền là 125.807.160 đồng (trong đó vốn là 35.000.000 đồng; lãi là 90.807.160 đồng) từ kỳ thứ 8 (ngày 10/8/2022) đến nay bà D không trả tiền vốn và lãi nên Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn theo Khoản 1 Điều 8 Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và yêu cầu bà D thanh toán toàn bộ số tiền vốn vay còn nợ là 1.165.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.4] Xét yêu cầu trả lãi của nguyên đơn:

Theo Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021 và Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021 thì các bên thỏa thuận lãi suất vay trong 03 tháng đầu là 12% năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 28/03/2022 theo công thức tỉnh lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ lãi suất (2). Trong đó: Lãi suất cơ sở (1): Là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ; Biên độ lãi suất (2): Tối thiểu 4,5%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Sau khi vay, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi theo thoả thuận của hợp đồng và Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021, cụ thể, bà D chỉ trả cho ngân hàng được 07 kỳ lãi với số tiền là 90.807.160 đồng, từ kỳ thứ 8 (ngày 10/8/2022) cho đến nay thì bà D không trả lãi cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn và chuyển những kỳ đến hạn của bà D sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% trên mức lãi suất trong hạn và tính lãi phạt chậm trả lãi theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp quy định tại Điều 5, 7 Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Hiện nay, mức lãi suất vay trong hạn Ngân hàng đang áp dụng với khoản vay của bà D là 12,10%/năm. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà D phải thanh toán số tiền lãi tính đến hết ngày 07/8/2024 là 357.329.517 đồng (trong đó, lãi trong hạn 303.002.443 đồng, lãi quá hạn: 24.302.938 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.024.136 đồng) còn nợ và số tiền lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền vốn và lãi mà bị đơn bà Hà Mỹ D có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P tính đến hết ngày 07/8/2024 là 1.522.329.517 đồng.

[3.7]. Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 08/8/2024 cho đến khi bà D trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên được chấp nhận.

[4]. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, thấy rằng:

[4.1]. Hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn với bị đơn được lập thành văn bản, có công chứng hợp đồng, các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết nên về hình thức và nội dung của hợp đồng là phù hợp với quy định tại quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai 2013. Ngoài ra, việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất đã được các bên thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.

[4.2] Theo Điều 1 và Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 thì bà D dùng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²; địa chỉ: Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 để bảo đảm cho tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ mà bà D phải trả cho Ngân hàng K nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại, các loại phí, lệ phí và các khoản bồi hoàn phát sinh,... nên có căn cứ để xác định Hợp đồng thế chấp nêu trên là để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của bà D.

[4.3]. Đối với tài sản gắn liền trên đất: Nguyên đơn, bị đơn và ông Truyền thống n căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S tỉnh Sóc Trăng gắn liền trên đất, diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m; khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole thuộc quyền sở hữu của bà D và bà D đồng ý trường hợp bà không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn thì để Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021: “Tài sản bảo đảm: Phần công trình, diện tích cải tạo, đầu tư, xây dựng thêm và các tài sản khác gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản thế chấp”.

Từ những phân tích trên, Ngân hàng yêu cầu trường hợp bà D không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, diện tích: 203,9m² (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 75,0 m²; đất trồng cây lâu năm 128,9 m²) địa chỉ: Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 được Văn phòng công chứng Lý Chenl, tỉnh Sóc Trăng công chứng hợp đồng, số công chứng 2529, quyền số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật và căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng gắn liền trên đất diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m; khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole của bà D (nhà chưa được công nhận quyền sở hữu), để ngân hàng thu hồi nợ, là có cơ sở chấp nhận.

[5] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ vào Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bà Hà Mỹ D phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần P đã tạm ứng trước nên sau khi bà D giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn bà Hà Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 57.669.886 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 158, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • - Điều 317, Điều 318, Điều 319, Khoản 1 Điều 325, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Khoản 3 Điều 167, Điều 168 của Luật Đất đai 2013;
  • - Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P:

  • - Buộc bà Hà Mỹ D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày ngày 07/8/2024 là 1.522.329.517 đồng (trong đó, nợ gốc là 1.165.000.000 đồng, lãi trong hạn 303.002.443 đồng, lãi quá hạn: 24.302.938 đồng; lãi chậm trả lãi: 30.024.136 đồng)
  • - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Hà Mỹ D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 0116/2021/PLP/HĐTD ngày 24/12/2021 và Khế ước nhận nợ số 0116/2021/PLP/KUNN ngày 28/12/2021 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
  • - Khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng Thương mại cổ phần P có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Hà Mỹ D không trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0116/2021/PLP/HĐTC ngày 24/12/2021 để thu hồi nợ, gồm:
    • + Quyền sử dụng đất diện tích: 203,9m² (trong đó, đất ở tại đô thị 75,0m², đất trồng cây lâu năm 128,9 m²) tại thửa đất số 154, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhân Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC617629, số vào sổ CS04080 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 08/12/2021.
    • + Cùng tài sản gắn liền trên đất là căn nhà trệt số 37/28/7 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 146m²; kết cấu nền lát gạch men, vách tường gạch, tường có ốp gạch men cao 1,15m, khung bê tông cốt thép, trần la phông, mái lợp tole, nhà chưa được công nhận quyền sở hữu.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Hà Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 57.669.886 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.662.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001667 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

4. Về chi phí tố tụng: Bà Hà Mỹ D phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần P đã tạm ứng trước nên sau khi bà Hà Mỹ D giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 127/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger