|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2024/HNGĐ-ST |
Ngày: 05-8-2024 |
|
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” - |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên
Bà Huỳnh Thị Thuý Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 339/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 412/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1997. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Cư trú: Số A, tổ D, ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
-
Bị đơn: Ông Phan Ngọc T1, sinh năm 1982. Vắng mặt
Cư trú: Số 441/23, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T, trình bày:
- + Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Đến ngày 02 tháng 5 năm 2018, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 02 tháng 5 năm 2018. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn không thể giải quyết được. Những mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Bà Nguyễn Hoàng T đã bỏ đi về nhà cha mẹ ruột ở thành phố P, tỉnh Kiên Giang sinh sống từ năm 2021 và vợ chồng đã ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Hoàng T yêu cầu được ly hôn với ông Phan Ngọc T1.
- + Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Phan Trí T2, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2020. Hiện nay con chung đang sống chung với ông Phan Ngọc T1. Khi ly hôn, bà Nguyễn Hoàng T đồng ý cho ông Phan Ngọc T1 nuôi con chung vì ông T1 nuôi dạy con rất tốt; bà T không đồng ý cấp dưỡng nuôi con vì nhiều lần bà T gửi tiền nuôi con nhưng ông T1 gửi trả lại cho bà T.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Phan Ngọc T1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Hoàng T tranh chấp về ly hôn với ông Phan Ngọc T1, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Phan Ngọc T1 có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Ngọc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, bà Nguyễn Hoàng T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1.
-
Về nội dung vụ án:
-
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
- [3.1.1] Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 02 tháng 5 năm 2018. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Nguyễn Hoàng T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phan Ngọc T1. Bà Nguyễn Hoàng T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt và hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2021 đến nay.
- [3.1.2] Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Ngọc T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng T; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện ông Phan Ngọc T1 không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 có 01 (một) con chung tên Phan Trí T2, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2020. Hiện nay con chung đang sống chung với ông Phan Ngọc T1. Khi ly hôn, bà Nguyễn Hoàng T đồng ý cho ông Phan Ngọc T1 nuôi con chung vì ông T1 nuôi dạy con rất tốt; bà T không đồng ý cấp dưỡng nuôi con vì nhiều lần bà T gửi tiền nuôi con nhưng ông T1 gửi trả lại cho bà T.
- [3.2.1] Xét thấy, cháu Phan Trí T2, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2020 chưa thành niên, hiện đang sống chung với ông Phan Ngọc T1 từ lúc bà Nguyễn Hoàng T bỏ nhà đi cho đến nay, bà Nguyễn Hoàng T đồng ý để cho ông Phan Ngọc T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phan Trí T2. Ông Phan Ngọc T1 không có ý kiến về không yêu cầu nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Phan Trí T2, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phan Trí T2 cho ông Phan Ngọc T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3.2.2] Ông Phan Ngọc T1 cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Nguyễn Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp bà Nguyễn Hoàng T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông Phan Ngọc T1 thì ông Phan Ngọc T1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Nguyễn Hoàng T.
- [3.2.3] Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3.3] Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Hoàng T không đồng ý cấp dưỡng nuôi con và ông Phan Ngọc T1 cũng không có ý kiến về việc yêu cầu bà Nguyễn Hoàng T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Hoàng T không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Phan Ngọc T1 cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- [3.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hoàng T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
-
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng T. Bà Nguyễn Hoàng T được ly hôn với ông Phan Ngọc T1.
-
Về con chung: Ông Phan Ngọc T1 được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phan Trí T2, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2020.
Ông Phan Ngọc T1 cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Nguyễn Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp bà Nguyễn Hoàng T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông Phan Ngọc T1 thì ông Phan Ngọc T1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Nguyễn Hoàng T.
Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con.
- Về cấp dưỡng: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hoàng T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002150 ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Hoàng T đã thực hiện xong.
-
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Hoàng T và ông Phan Ngọc T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T kiện xin ly hôn Phan Ngọc T1
