|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2024/DS-ST Ngày: 04-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Hồ Đắc Minh;
2. Ông Nguyễn Tấn Hưng.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 86/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2). Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của S2: Ông Trần Văn S – chức vụ: Chuyên viên khách hàng phòng giao dịch B – S2 là người đại diện theo uỷ quyền (giấy uỷ quyền số 14/2024/GUQ-PGDBB ngày 15/4/2024)
Bị đơn: Ông Huỳnh Minh N, sinh năm 1986. HKTT: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Đại diện nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin vắng mặt, đại diện nguyên đơn (ông Trần Văn S) trình bày:
Ngày 26/12/2022, ông Huỳnh Minh N có ký với S2 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của S2. Căn cứ thu nhập của ông N, S2 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông N với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông N đã thực hiện các giao dịch và vay tiêu dùng trả góp số tiền 90.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán được cho ngân hàng số tiền 2.355.000 đồng và thanh toán tiền vay tiêu dùng là 30.531.600 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 09/01/2024, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) yêu cầu ông Huỳnh Minh N phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 11/03/2024 là 94.845.438 đồng và lãi phát sinh sau ngày 11/03/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Tại phiên toà, theo văn bản chi tiết, S2 yêu cầu ông N phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là 116.374.823 đồng (gốc là 89.115.363 đồng, lãi phát sinh là 27.259.460 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 03/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764.
Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông N trong quá trình tố tụng đã được Tòa án thực hiện thủ tục triệu tập và cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông N vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán,Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn ông N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng S2 yêu cầu ông N phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là 116.374.823 đồng (gốc là 89.115.363 đồng, lãi phát sinh là 27.259.460 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 03/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764. Ông N hiện đang cư trú tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn ngân hàng S2 yêu cầu ông N phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là 116.374.823 đồng (gốc là 89.115.363 đồng, lãi phát sinh là 27.259.460 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 03/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764. Căn cứ để chứng minh là hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764. Bị đơn ông N có hộ khẩu thường trú và vẫn còn sinh sống tại địa phương, đã được Toà án tống đạt, niêm yết bản sao giấy cho vay tiền cũng như thông báo thụ lý, giấy triệu tập cùng các văn bản tố tụng khác tại nhà ông N để ông N để tham gia tố tụng nhưng ông N đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối nội dung nguyên đơn tranh chấp với bị đơn. Xét hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Ngày 26/12/2022, ông Huỳnh Minh N có ký với S2 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của S2. Căn cứ thu nhập của ông N, S2 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông N với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông N đã thực hiện các giao dịch và vay tiêu dùng trả góp số tiền 90.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán được cho ngân hàng số tiền 2.355.000 đồng và thanh toán tiền vay tiêu dùng là 30.531.600 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 09/01/2024, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông N phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là
116.374.823 đồng (gốc là 89.115.363 đồng, lãi phát sinh là 27.259.460 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 03/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764 là có căn cứ chấp nhận.
[4] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 92, 147, 217, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) đối với bị đơn ông Huỳnh Minh N về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Huỳnh Minh N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 03/9/2024 là 116.374.823 đồng (một trăm mười sáu triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi ba đồng), trong đó, tiền gốc là 89.115.363 đồng (tám mươi chín triệu một trăm mười lăm ngàn ba trăm sáu mươi ba đồng), lãi phát sinh là 27.259.460 đồng (hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi đồng).
Kể từ ngày 04/9/2024 cho đến khi ông Huỳnh Minh N thanh toán hết các số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) thì ông Huỳnh Minh N phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất thoả thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng số 3542205764.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Minh N phải chịu 5.818.741 đồng (năm triệu tám trăm mười tám ngàn bảy trăm bốn mươi mốt đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) số tiền 2.371.136 đồng (hai triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm ba mươi sáu đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0000034 ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Ngọc Tuyền |
Bản án số 127/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 127/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S1 tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Huỳnh Minh N
