|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2024/DS-PT
Ngày: 03 - 5 - 2024
V/v: “tranh chấp hợp đồng hợp tác”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Biền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Ông Nguyễn Thành Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án tranh chấp dân sự thụ lý số: 136/2024/TLPT-DS ngày 15/01/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do bản án số 130/2023/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Bà Lại Thị Kim A – Luật sư thuộc Công ty TNHH L, Đoàn Luật sư thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị T, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1948. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Có mặt ông H, bà Y, bà Kim A1; vắng mặt ông H1, bà T, ông Đ, bà H2, chị V).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09-12-2022, bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn H1 là anh em trai. Cuối năm 2011, vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Y đang sinh sống, làm việc trong nam thì vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Đặng Thị T gọi điện thoại nói với vợ chồng ông H, bà Y nội dung: Ông H1, bà T đã đấu thầu của Ủy ban nhân dân (UBND) xã H được hơn 14.000m² đất muối để làm đầm chăn nuôi thủy hải sản. Do ông H1, bà T không có tiền để đầu tư xây dựng ô đầm nên rủ vợ chồng ông H, bà Y về quê góp vốn làm đầm nuôi tôm chung. Vì muốn về quê ở gần bố mẹ, anh chị em nên ông H đã bán đất trong nam, vay mượn thêm tiền đem về quê làm ăn chung với ông H1, bà T. Trước khi làm chung, các bên đã thỏa thuận: Vợ chồng ông H1, bà T đứng tên thuê đất; các chi phí phát sinh từ việc đầu tư làm đầm, trả tiền thuê đất, đào đất, xây các hồ đầm; mua sắm dụng cụ cần thiết cho việc nuôi tôm; mua giống, thức ăn trong quá trình nuôi tôm các bên chịu chung, lợi nhuận chia đôi, chia theo từng vụ, làm đến đâu các bên góp tiền đến đó. Do thời gian đầu không đủ tiền để đầu tư làm hết diện tích đất thuê nên vụ đầu năm 2012, anh em chỉ làm 2 ô đầm diện tích khoảng 4.000m² đất. Từ khoảng tháng 2 đến tháng 4/2012, vợ chồng ông H, bà T đã góp với vợ chồng ông H1, bà T tổng số tiền 213.000.000đ để làm ăn chung, giao tiền nhiều lần. Vì tin tưởng anh em ruột nên tất cả các lần giao tiền, ông H không yêu cầu ông H1 ký nhận. Các thỏa thuận về việc góp vốn cũng chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản, không có người làm chứng. Ngay từ vụ đầu năm 2012, việc nuôi tôm thuận lợi, ông H1, bà T có hạch toán chia tiền lãi từng vụ cho ông H, bà Y nhưng chỉ chia một phần, phần lãi còn lại tiếp tục đầu tư, hoàn thiện dần được tất cả 6 ô đầm nổi trên toàn bộ diện tích đất thuê để nuôi tôm. Năm 2016, được mùa với số tiền lãi rất lớn, ông H1 chỉ mới đưa tạm cho ông H số tiền nhỏ, không quyết toán thanh toán sổ sách thu chi chia tiền lãi. Không muốn vì kinh tế mà anh em mất đoàn kết nên ông H, bà Y vẫn tiếp tục góp vốn làm ăn chung với ông H1 thêm 02 năm nữa nhưng cả 2 năm liền sau đó đều thất thu. Trong thời gian làm ăn chung, toàn bộ sổ sách ghi các khoản đầu tư, thu chi đều do ông H1 lập, cuối vụ thanh toán cho ông H sau đó ông H1 giữ, ông H chỉ cầm được 01 quyển sổ do ông H ghi các khoản chi vào vụ nuôi tôm đầu năm 2018.
Từ cuối năm 2017, ông H mắc bệnh hiểm nghèo phải điều trị thời gian dài nên từ vụ tôm thứ 2 năm 2018 không hợp tác nuôi tôm chung với ông H1 nữa. Cuối năm 2019, ông H1 bàn với ông H chuyển từ nuôi tôm sang nuôi hàu giống. Vì đang điều trị bệnh nặng không thể làm được nên ông H từ chối không nuôi hàu giống cùng ông H1. Ông H1 đã rủ anh Nguyễn Văn Đ (em trai ông H, ông H1) hợp tác nuôi hàu giống trên 1 ô đầm với diện tích khoảng 2.000m²; diện tích còn lại ông H1, bà T cũng nuôi hàu giống nhưng nuôi riêng, không chung với anh Đ.
Năm 2021, sau khi khỏi bệnh, ông H đến gặp ông H1 đề nghị được tiếp tục góp vốn làm chung nhưng ông H1 không đồng ý; ông H có nhận làm công cho ông H1 một thời gian thì ông H1 không thanh toán tiền công đầy đủ nên ông H không làm nữa. Khi đó, ông H1 đã lấy một số quạt, máy bơm, đường dây diện cũ, ... thiết bị nuôi tôm đã đầu tư trước đây nhưng đều đã hỏng chia cho ông H ½, ông H bán đồng nát được khoảng hơn mười triệu đồng. Cũng trong năm 2021, bà T đã làm đơn xin ly hôn với ông H1. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 50/2021/QĐ-HNGĐ ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã giải quyết cho ông H1, bà T ly hôn nhưng không phân chia tài sản chung.
Ông H, bà Y xác định toàn bộ diện tích đất ông H1, bà T đứng tên thuê của UBND xã H từ năm 2012 đến nay và tất cả các tài sản đã đầu tư, xây dựng trên đất thuê từ năm 2012 đến năm 2018 gồm 6 ao đầm, nhà cấp bốn, đường dây điện ba pha,...hiện ông H1 đang quản lý sử dụng là tài sản chung giữa vợ chồng ông H1, bà T và vợ chồng ông H, bà Y. Vì vậy, ông H, bà Y yêu cầu Tòa án buộc ông H1 phải giao lại cho ông H, bà Y ½ tài sản chung tương đương 03 ao đầm đã cải tạo để nuôi tôm hoặc thanh toán ½ giá trị tổng tài sản kể trên.
Tại các bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn H1, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Lại Thị Kim A trình bày:
Trước năm 2012, ông H1, bà T nhận đấu thầu của UBND xã H lô đất diện tích khoảng hơn 14.000 m² để nuôi tôm, thời hạn 5 năm; tháng 1/2012, xã cho ký hợp đồng thuê. Ngay sau khi thuê đất, ông H1, bà T đã đào đất, xây hồ ao để nuôi tôm thẻ chân trắng. Thời gian đầu, phần vì không có nhiều vốn, phần vì sợ chưa có nhiều kinh nghiệm sẽ rủi ro lớn nên ông H1 mới chỉ xây 02 ao hồ. Biết việc ông H1 thuê được diện tích đất lớn để nuôi tôm, bố mẹ và các anh chị em trong gia đình đã động viên ông H đang làm ăn xa mà không hiệu quả, sức khỏe yếu thì về quê góp vốn nuôi tôm cùng anh trai là ông H1. Sau khi ông H1 xây 02 ao đầm, chuẩn bị thả tôm thì ông H thỏa thuận hợp tác nuôi tôm. Theo thỏa thuận: Một năm nếu khai thác liên tục thì được 02 vụ nuôi tôm, ông H, bà Y hợp tác vụ nào thì góp vốn vụ đó, đầu tư đến đâu góp đến đó, cuối vụ hạch toán chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. Toàn bộ sổ sách chi tiêu từ khi trải bạt, mua máy bơm, quạt, máy phát, chuẩn bị nước, thuốc, con giống, thức ăn, các chi phí phát sinh trong quá trình nuôi do ông H1 chủ trì, ghi chép đến cuối vụ cân đối thu chi. Vì là anh em ruột nên chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Tất cả các vụ, ông H đều trực tiếp đưa tiền góp vốn cho ông H1, đầu tư đến đâu thì góp đến đó nên việc góp vốn thực hiện nhiều lần, có ghi sổ để cuối vụ hạch toán chi tiêu nhưng không ký nhận. Sau mỗi vụ tôm, ông H1 đều cân đối thu chi trong vụ, chia lãi theo tỷ lệ vốn góp cho các thành viên góp vốn hợp tác. Sổ sách, các giấy biên nhận mua sắm thu chi sau khi hạch toán hết vụ, ông H1 đã hủy lập sổ thu chi vụ mới, hiện đã qua nhiều vụ nên không còn lưu giữ. Từ vụ nuôi tôm đầu tiên năm 2012 chỉ có ông H và ông H1 hợp tác, đúng như thỏa thuận nuôi đến đâu góp đến đó, ông H đã đưa tiền góp vốn cho ông H1 nhiều lần, cụ thể các lần đưa tiền ông H1 có ghi nhưng vì cuối vụ đều đã hạch toán phân chia, nay sổ không còn nên không nhớ. Vụ đầu tiên nuôi 02 ao đầm, tổng kinh phí đầu tư hết khoảng trên 400.000.000đ. Số tiền này chỉ bao gồm các khoản đầu tư như: Tiền giàn quạt nước, tiền bạt trải đầm, tiền làm giếng lọc nước, cầu giao, bệ máy, dây điện, tôm giống, cám, thuốc ... từ khi thả tôm đến khi thu hoạch chứ hoàn toàn không tính tiền đào ao, xây hồ.
Từ vụ đầu tiên năm 2012 đến hết năm 2017, việc nuôi tôm đều thắng lợi. Sau khi hạch toán chia lãi từng vụ cho các thành viên góp vốn, ông H1 tiếp tục đào và xây thêm 04 ao đầm nữa. Việc nuôi tôm nếu thuận thì lãi lớn, nếu không thuận có thể mất trắng, thậm chí lỗ nặng, nhiều gia đình bán sạch tài sản trả nợ vì nuôi tôm. Vì vậy, để tránh phải chịu rủi ro một mình và tạo điều kiện cho anh em phát triển kinh tế nên hàng vụ, ông H1 đều kêu gọi anh em cùng hợp tác góp vốn nuôi tôm chung.
Trong thời gian ông H hợp tác với ông H1, ngoài ông H, ông H1 còn cho các em trai gồm anh Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn H3, anh Nguyễn Văn Đ (đồng thời là các anh em ruột ông H), chị Nguyễn Thị V (con gái ông H1) cùng hợp tác. Tất cả các trường hợp xin hợp tác, ông H1 đều thỏa thuận như đã thỏa thuận với ông H: Đầu vụ các bên có bao nhiêu vốn thì góp bấy nhiêu, tiền góp đưa trực tiếp ông H1 nhận, sổ sách chi tiêu do ông H1 chủ trì, sau khi kết thúc vụ, các bên hạch toán đối thu trừ chi, chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn hợp tác. Anh T1 hợp tác cùng ông H1, ông H đến hết năm 2013; ông H3 hợp tác đến hết năm 2016; ông H hợp tác đến vụ thứ nhất năm 2018 thì không hợp tác nữa. Chị V cũng hợp tác theo vụ với ông H1 đến hết năm 2021. Từ vụ thứ hai năm 2018, khi ông H1 xuống giống tôm, ông H thấy tôm có dấu hiệu bị bệnh nên từ đó dừng không hợp tác cùng ông H1 nữa. Đầu năm 2021, do mấy năm liên tiếp nuôi tôm bị thua lỗ nên ông H1 có ý định chuyển sang nuôi hàu. Khi chuyển sang nuôi hàu, ông H1 có hỏi các anh em trong gia đình nhưng ông H từ chối, chỉ anh Đ, chị V xin hợp tác làm cùng, góp tiền đầu tư nuôi hàu giống. Trong thời gian nuôi hàu cần nhân công, ông H1 và anh Đ có thuê ông H đến làm công một thời gian thì mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền công. Khoảng tháng 9/2022, ông H đến đầm của ông H1 đòi tiền công, hai bên lời qua tiếng lại nên ông H1 đã đưa tất cả các vật dụng trong kho trước kia dùng nuôi tôm như máy nổ, mô tơ, quạt nước, các cây tít để làm giàn quạt, dây điện trước đó các bên đã mua sắm theo vụ để nuôi tôm chia ông H ½ để bán đồng nát.
Sau đó, ông H có hỏi ông H1 mượn 02 ao đầm để sử dụng. Tuy nhiên, ông H không thiện chí làm mà còn có ý định phá hoại ao đầm nên ông H1 đã không cho ông H mượn để khai thác sử dụng nữa. Vì ông H1 thuê đầm, đầu tư ao hồ nên những người khác muốn hợp tác đều chỉ hỏi ông H1 mà không hỏi ông H, không phải trả tiền thuê lại cho ông H; ông H có thời gian còn đến làm thuê cho ông H1. Khi không ai hợp tác, ông H1 vẫn trả tiền thuê, trông coi, cải tạo giữ gìn tài sản tại đầm. Từ năm 2023, khi ký hợp đồng thuê đất, ông H1 đã phải cam kết với UBND xã H khi nào UBND xã không cho thuê thì ông H1 phải tự thu dọn tài sản trả lại đất thuê, không được đền bù đối với tất cả các tài sản đã đầu tư trên đất. Việc ông H, bà Y cũng như ông T1, ông H3, ông Đ, chị V góp vốn hợp tác làm ăn với bị đơn là góp vốn theo mùa vụ, vụ nào đã chia lãi vụ đó. Hàng vụ, các bên đều đã tính toán và chia lợi nhuận với nhau, sổ sách, hóa đơn mua hàng hạch toán xong ông H1 đã hủy hết, hiện không còn lưu lại vụ nào. Vì vậy, ông H1 không nhất trí với các yêu cầu của ông H, bà Y; đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông H.
Tại bản tự khai ngày 28 tháng 02 năm 2023, lời khai trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y nhất trí với toàn bộ ý kiến, yêu cầu của ông Nguyễn Văn H.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 6 năm 2023, người làm chứng bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Ông H1, ông H, ông H3, ông Đ, ông T1 đều là các con đẻ của bà H2. Đầu năm 2012, bà H2 vào nam chơi có nghe nói ông H1 đấu thầu đất của UBND xã H, đang cải tạo, đào xây hồ nuôi tôm. Bà H2 đã nói với vợ chồng ông H, bà Y về quê tìm đất thuê hoặc góp vốn nuôi tôm chung với ông H1. Sau khi thương lượng, ông H nói bà Y gửi số tiền khoảng 100.000.000đ đến 120.000.000đ về góp với ông H1. Sau đó, ông H, bà Y có góp tiền thêm với ông H1 hay không, góp thời điểm nào, các bên thỏa thuận cụ thể ra sao bà H2 không biết. Cùng với việc cho ông H góp vốn, ông H1 còn rủ các em khác gồm ông T1, ông H3, ông Đ làm ăn chung. Theo bà H2, đầm do ông H1 đứng tên thuê, đào ao, xây hồ rồi cho ông H, ông H3, ông T1, ông Đ, chị V hợp tác nuôi tôm chung, hoạch toán chia lỗ lãi theo từng vụ. Quá trình nuôi thả, các bên có đầu tư thiết bị cần thiết như máy bơm, quạt gió, dây điện, ống nước... những tài sản này hầu như khấu hao theo vụ, có khi không được một vụ đã hỏng phải sửa chữa, thay thế. Trong số các con của bà H2, ai hợp tác với ông H1 những vụ nào, góp vốn bao nhiêu, chia được bao nhiêu tiền lãi bà H2 không biết. Ông H, ông H3, ông Đ, ông T1 mỗi người góp vốn hợp tác với ông H1 một số vụ thì không tiếp tục hợp tác nữa, tiền vốn, lãi các bên đã thanh toán cuối mỗi vụ nên không xảy ra tranh chấp. Cuối năm 2021, ông H có đến làm công nuôi hào giống cho ông H1, ông Đ một thời gian thì anh em xảy ra mâu thuẫn. Ông H1 đã chia cho ông H một số dụng cụ sử dụng nuôi tôm trước đây như máy bơm, quạt gió, dây điện cũ đã sử dụng, ông H đã bán đồng nát. Nay ông H khởi kiện tranh chấp về việc hợp tác làm ăn với ông H1, bà H2 là mẹ đẻ đã khuyên bảo các con nhưng không hòa giải được nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 5 năm 2023, người làm chứng ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Trước năm 2016, ông Đ ở tại thành phố V nên không biết việc ông H1 thuê đất, làm đầm, hợp tác làm ăn với ông H, ông T1, ông H3, chị V như thế nào. Ông Đ chỉ nghe người trong gia đình nói ông H1 thuê đầm, làm hồ, tạo điều kiện cho các anh em trong gia đình gồm ông H, ông H3, ông T1, chị V hợp tác nuôi tôm. Năm 2016 được mùa tôm, ông H được chia một khoản tiền rất lớn từ việc hợp tác với ông H1, ông H đã sử dụng mua đất, xây nhà, mua xe ô tô... Đến khoảng năm 2018, việc nuôi tôm thua lỗ, ông H không hợp tác với ông H1 nữa. Năm 2020, ông Đ xin hợp tác cùng ông H1 cải tạo 01 hồ đầm từ mô hình nuôi tôm sang đầu tư nuôi hàu giống. Khi cải tạo đầm cũng như góp vốn hợp tác, ông Đ chỉ thỏa thuận cùng ông H1 mà không phải hỏi xin ý kiến từ ông H, ông H3, ông T1, chị V hay bất cứ ai. Trong suốt thời gian hợp tác đến nay cũng không thấy ai đến ý kiến, yêu cầu ông Đ phải trả tiền thuê; trong hạch toán các khoản chi, ông H1 cũng không kê khoản tiền thuê đất. Năm 2021, do việc nuôi hàu giống cần nhiều nhân công nên ông H1 đã thuê ông H đến làm công. Làm được một số buổi thì ông H đòi tiền công từ ông H1 nên anh em mâu thuẫn, ông H1 đã chia cho ông H một số dụng cụ trước kia nuôi tôm còn lại nhưng hầu như đã hư hỏng, chia những vật cụ thể gì, tỷ lệ thế nào anh Đ không tham gia, không biết. Mặc dù trong số tài sản các bên hiện đang tranh chấp có ao đầm ông H1 đang hợp tác nuôi hàu với anh Đ nhưng các tài sản mà anh Đ đang hợp tác với ông H1 đều là tài sản theo thời vụ, có thể kết thúc trước khi Tòa án giải quyết vụ án hoặc có thể di dời nên anh Đ không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tại đơn trình bày ngày 17 tháng 7 năm 2023, người làm chứng chị Nguyễn Thị V trình bày:
Chị V là con gái ông H1, bà T. Năm 2012, chị V đang học ở Hà Nội có nghe mẹ đẻ nói bố mẹ chị V đấu thầu đất của UBND xã H để nuôi thủy sản. Thời điểm đó, ông H, bà Y đang làm việc trong nam có gọi điện xin hợp tác nuôi tôm cùng. Sau đó, các bên thỏa thuận, hợp tác góp vốn với nhau ra sao chị V không biết rõ. Từ năm 2012 đến năm 2017, ngoài ông H còn có ông T1, ông H3 đều là chú ruột của chị V hợp tác làm ăn chung với ông H1. Cũng trong năm 2017, ông H3 không hợp tác với ông H1, ông H nữa thì chị V xin hợp tác cùng, thay vào phần của ông H3. Việc hợp tác nuôi tôm với ông H1 theo chị V được biết là hợp tác theo mùa vụ. Đầu vụ, ai có nhu cầu thì thỏa thuận hợp tác, đầu tư đến đâu góp vốn đến đó, ông H1 là người chủ trì ghi chép thu chi, cuối vụ hoạch toán, phân chia lỗ lãi theo tỷ lệ vốn góp. Các tài sản như máy bơm, quạt gió, bạt trải đầm, tôm giống, thuốc, cám, ...là các tài sản đầu tư và khấu hao theo vụ, hết vụ các thành viên không hợp tác nữa thì cũng không ai yêu cầu chia lại. Vì vậy, hết năm 2017, sau khi ông T1, ông H3 không hợp tác thì cũng không ai có ý kiến gì về việc phân chia tài sản. Năm 2018, khi ông H không làm chung với ông H1 nữa, chị V tiếp tục hợp tác cũng không phải hỏi ý kiến hay trả tiền thuê đất, thuê tài sản cho ông H. Từ năm 2021, việc nuôi tôm không hiệu quả, ông H1 chuyển hợp tác nuôi hàu giống cùng ông Đ, chị V lo việc gia đình nên không hợp tác nữa.
Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 92/TB-TLVA ngày 06/10/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho bà T nhưng bà T không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý đối với các yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bà T nhưng đến nay bà T vẫn vắng mặt không lý do.
Tại bản án sơ thẩm số 130/2023/DSST, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định quyết định:
Căn cứ các điều 117, 129, 131, 504, 512 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 92, 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự:
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Y về việc buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Đặng Thị T phải chia ½ (một phần hai) quyền sử dụng diện tích 15538m² đất thuê thuộc khu vực đồng A H xã H và tài sản trên đất có tổng trị giá 232.946.000đ (hai trăm ba mươi hai triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
- Chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) chi phí tố tụng nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng đã nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) đã nộp tại Tòa án. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
- Án phí: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Nguyễn Văn H phải nộp 5.823.000đ (năm triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp, ông Nguyễn Văn H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại 15.177.000đ (mười lăm triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006566 ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H giữ nguyên kháng cáo, không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều đảm bảo.
- Về phần nội dung vụ án bản án sơ thẩm đã giải quyết tranh chấp hợp đồng hợp tác giữa các bên đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm. Án phí dân sự phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của ông nguyễn Văn H4, kháng cáo toàn bộ bản án số 130/2023/DSST của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu trong hạn luật định. Do đó Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm là đúng thẩm quyền. Kháng cáo quá hạn của bà Đặng Thị T không được Toà án chấp nhận, đã có quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà T. Tại phiên toà bà T vắng mặt lần hai không có lý do chính đáng nên Toà án xứ vắng mặt bà T là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận: Từ năm 2012 đến nay, ông H1 là người đứng tên ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất muối của UBND xã H. Hàng năm, ông H1 chịu trách nhiệm thanh toán tiền thuê, các khoản đóng góp khác theo thỏa thuận cho UBND xã đồng thời thực hiện các cam kết với UBND xã H. Cũng từ năm 2012 đến vụ đầu năm 2018, ông H1, ông H4 đại diện gia đình thỏa thuận hợp tác nuôi tôm thẻ chân trắng tại đất đầm do ông H1 đứng tên thuê. Mặc dù thỏa thuận không được lập thành văn bản nhưng thực tế các bên có góp vốn, có chia lợi nhuận với nhau. Như vậy, giữa ông H1, ông H4 có hợp đồng hợp tác nuôi tôm.
Theo quy định tại Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản. Theo xác nhận của các bên đương sự, thỏa thuận giữa các bên bằng lời nói, không được lập thành văn bản. Tuy nhiên các bên thỏa thuận và thực hiện hợp đồng theo mùa vụ và đã thực hiện xong hợp đồng theo thoả thuận. Do đó hợp đồng giữa ông H4 và ông H1 là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông H4, bà Y cho rằng đã đưa tiền góp vốn cho ông H1, bà T nhiều lần, góp ngay từ sau khi thuê đất, trực tiếp cùng bị đơn đào ao, xây bờ kè, làm hồ để nuôi tôm, tổng số tiền góp hợp tác làm chung là 213.000.000đ. Sổ sách hạch toán thu chi do ông H1 lập, giữ. Từ năm 2012 đến hết năm 2017, việc nuôi tôm thuận lợi, cuối mỗi vụ có hạch toán thu chi nhưng ông H1 không trả hết tiền mà giữ lại một phần để đầu tư tiếp. Thời điểm đó, bà T đang là vợ hợp pháp của ông H1. Mặc dù mọi công việc liên quan đến việc hợp tác nuôi tôm là do ông H1, ông H4 đứng ra giao dịch nhưng tài sản thì vẫn xác định là tài sản chung vợ chồng. Năm 2021, ông H1, bà T ly hôn nhưng chưa phân chia tài sản. Vì vậy, nguyên đơn xác định quyền sử dụng đất thuê, tài sản công trình hiện có trên đất gồm 06 hồ xây để nuôi tôm là tài sản chung giữa vợ chồng ông H4, bà Y và ông H1, bà T trong đó kỷ phần của mỗi gia đình là ngang nhau. Từ năm 2018, do sức khỏe yếu nên ông H4, bà Y không hợp tác làm ăn cùng ông H1 nữa nên nay ông H4, bà Y yêu cầu ông H1, bà T phải thanh toán cho ông H4 ½ số tiền giá trị quyền sử dụng đất thuê và tài sản ao đầm trên đất hoặc chia cho ông H4, bà T sử dụng 03 ao đầm tương đương ½ diện tích đất thuê và tài sản trên đất. Bị đơn ông H1 xác định là người đứng ra thuê đất, đầu tư làm ao hồ sau đó lần lượt cho các anh chị em trong gia đình gồm ông H4, ông H3, ông T1, ông Đ, chị V hợp tác qua các thời kỳ. Trước khi hợp tác, hai bên đã thỏa thuận: Ông H4 góp vốn làm nhiều đợt, làm đến đâu góp đến đó vì ai cũng khó khăn. Ông H1 là người ghi chép sổ sách thu chi từ đầu đến cuối vụ, đối thu trừ chi phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, hết vụ nào thanh toán dóc vụ đó. Vụ tiếp theo nếu còn nhu cầu thì tiếp tục góp vốn hợp tác. Ngay từ vụ đầu tiên năm 2012, tổng số tiền đầu tư mua trang thiết bị cần thiết nuôi 02 hồ tôm gồm: Bạt trải hồ, quạt, máy bơm, ống nước, dây điện, tôm giống, cám, thuốc... hết khoảng trên 400.000.000đ trong đó ông H4 góp ½ tương đương số tiền 213.000.000đ. Việc nuôi tôm thuận lợi, hết vụ ông H1 chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn, lấy tiền lời của gia đình đầu tư tiếp làm thêm 04 hồ nuôi tôm sau đó lần lượt cho các em trai là ông T1, ông H3 hợp tác cùng ông H1, ông H4, chị V, ông Đ. Hết mỗi vụ tôm, các thành viên hợp tác thanh toán đối thu trừ chi và chia lợi nhuận xong là chấm dứt hợp đồng; sau đó người nào có nhu cầu thì tiếp tục hợp đồng, góp vốn hợp tác vụ tiếp theo.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với Quyền sử dụng đất thuê: Căn cứ biên bản xác minh tại UBND xã H và lời khai thừa nhận của các đương sự có đủ cơ sở xác định: Từ năm 2012 đến nay, ông H1 là người đứng tên ký hợp đồng thuê đất, nộp tiền thuê, thực hiện các cam kết kèm theo khi ký hợp đồng với UBND xã H. Từ khi thuê đến nay, ông H1, ông H4 không đến UBND xã làm thủ tục đăng ký thuê sử dụng chung, đăng ký cho thuê lại... Ngày 17 tháng 01 năm 2023, UBND xã H đã ký hợp đồng cho ông Nguyễn Văn H1 thuê quyền sử dụng 15538 m² đất tại khu vực đồng A H xã H, thời hạn thuê là 01 năm. Ông H4, bà Y không chứng minh được việc ông H1 có cho ông H4 thuê chung, hoặc được cho thuê lại nên quyền sử dụng diện tích đất thuê các bên tranh chấp thuộc về ông H1. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông H4, bà Y về việc buộc ông H1 chia ½ quyền sử dụng diện tích đất thuê. Do quyền sử dụng đất thuộc UBND xã H quản lý, cho người dân thuê đất theo từng năm nên Hội đồng định giá xác định giá trị thuê đất tính theo năm bằng với giá UBND xã H cho ông H1 thuê đất và bằng 1.000đ/m²/năm. Vì vậy, việc nguyên đơn tự ý xác định tổng giá trị quyền sử dụng đất thuê bằng số tiền 2.000.000.000đ là không có căn cứ.
Đối với công trình xây dựng và các tài sản khác trên đất thuê: Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông H4, bà Y đều khẳng định cùng ông H1, bà T cải tạo ruộng đất muối do ông H1 đứng tên thuê, đào ao, làm hồ, xây nhà ở để sinh hoạt phục vụ nuôi tôm... nhưng ông H1 không thừa nhận. Vợ chồng ông H4, bà Y cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ để chứng minh giữa hai bên có thỏa thuận đầu tư thuê đất chung, đầu tư tài sản cố định, công trình xây dựng chung. Khi nộp đơn khởi kiện, ông H4 có nộp 01 USB ghi đoạn hội thoại ông H4 trình bày là nội dung cuộc trao đổi giữa ông H4 và bà T vợ ông H1 và tờ giấy đánh máy ghi lại nội dung cuộc nói chuyện. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông H1 không công nhận các nội dung trên; bà T không đến Tòa án làm việc nên không đủ căn cứ xác định tài liệu do ông H4 cung cấp là tài liệu chứng cứ hợp pháp để chứng minh cho yêu cầu của ông H4. Hơn nữa, vụ tôm đầu tiên chỉ có ông H4, ông H1 hợp tác, ông H1 và ông H4 đều thừa nhận tổng chi phí đầu tư tính riêng từ khâu trải bạt, chuẩn bị nguồn nước, xử lý nước, mua dụng cụ cần thiết như máy bơm, quạt, dây diện, ống nước, mua tôm giống, thuốc, cám... do ông H1 trực tiếp chi và ghi chép hết trên 400.000.000đ. Như vậy, việc ông H4, bà Y góp với ông H1, bà T số tiền 213.000.000đ thì cũng chỉ tương đương ½ chi phí trực tiếp nuôi tôm. Thực tế, trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, ngoài ông H4 thì ông H3, anh T1 cũng có góp vốn hợp tác làm chung với ông H1, ông H4 một số vụ nuôi tôm. Tất cả các lần hợp tác, các bên đều thỏa thuận miệng, góp tiền trực tiếp cho ông H1, góp theo đợt, sổ sách chi tiêu cho ông H1 ghi, cuối vụ hạch toán thu chi, thanh toán dóc theo vụ. Sau khi không hợp tác nữa, ông H3, ông T1 đều không tranh chấp gì về tài sản gồm quyền sử dụng đất thuê và tài sản cố định (xây ao đầm) đã đầu tư trên đất thuê với ông H1. Từ năm 2018 ông H4 không hợp tác, ông H1 là người tiếp tục duy trì ký hợp đồng, nộp tiền thuê đất, giữ gìn, bảo quản tài sản thuê; chị V, anh Đ hợp tác cùng ông H1 nhưng cũng không phải hỏi ý kiến hoặc phải được sự đồng ý của ông H4. Trong thời gian anh Đ, chị V hợp tác, ông H4 cũng không yêu cầu gì đối với anh Đ, chị V. Năm 2021, ông H4 còn đến làm công nuôi hàu cho ông H1 sau đó mâu thuẫn tiền công và không làm nữa. Các tài sản như bạt trải hồ, máy bơm, quạt ô xy... là các tài sản dễ hư hỏng, có khi không dùng được hết một vụ tôm đã phải sửa chữa, thay thế nên được xác định như dụng cụ cần thiết chuẩn bị theo vụ... Từ những căn cứ, lập luận nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định, hợp đồng hợp tác giữa ông H1 và ông H4 cũng như giữa ông H1, ông H4 và các anh em khác như ông T1, ông H3, ông Đ, chị V là hợp đồng hợp tác theo mùa vụ. Kết thúc vụ đồng nghĩa với việc hợp đồng đương nhiên chấm dứt. Tài sản cố định, công trình xây dựng, đường điện ba pha ông H1, bà T hợp đồng lắp đặt thuộc quyền sở hữu của ông H1, bà T.
[3] Hiện nay, trên 01 ao đầm thuộc tài sản tranh chấp, ông H1 và anh Đ đang hợp tác nuôi hàu giống. Tuy nhiên, anh Đ xác định hợp tác theo vụ, hết vụ hàu giống các bên chấm dứt hợp đồng, số hàu giống trong ao là tài sản ông H1, anh Đ đầu tư chung nhưng có thể di chuyển. Vì vậy, anh Đ, ông H1 đều không yêu cầu giải quyết tài sản hiện đang đầu tư trên quyền sử dụng đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông H1 trình bày việc đầu tư nuôi tôm là do ông H1, ông H4 đứng ra làm nên bà T, bà Y không liên quan. Tuy nhiên, thời điểm từ khi thuê đất đến khi kết thúc làm chung, ông H1, bà T là vợ chồng hợp pháp; năm 2021, bà T, ông H1 ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản. Đến nay, bà T không có ý kiến, yêu cầu về việc xác định và phân chia tài sản giữa ông H1, bà T. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết; sau này ông H1, bà T có tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
[5] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản tổng cộng là 10.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền 10.000.000đ. Do yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải nộp toàn bộ chi phí tố tụng. Đối trừ số tiền phải nộp và số tiền tạm ứng đã nộp, nguyên đơn đã hoàn thành xong nghĩa vụ đối với các chi phí tố tụng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã giải quyết vụ án đúng pháp luật vì vậy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 130/2023/DSST ngày 23/8/2023. Kháng cáo của ông Nguyễn Văn H là không có căn cứ, không được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật, được đối trừ với tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 130/2023/DSST ngày 23/8/2023 của toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải nộp 300.000đ được đối trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai số 0002745 ngày 07/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Ông H đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thành Công | Nguyễn Tiến Dũng | Bùi Văn Biền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Biền |
Bản án số 127/2024/DS-PT ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Số bản án: 127/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác giữa ông H và ông H
