|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 127 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/5/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 520/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1993,
Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Vương Văn Đ, sinh năm 1988,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vương Văn Đ1, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Chị T, anh Đ, anh Đ1 đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Phan Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vương Văn Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/12/2010 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị chuyển về nhà anh Đ chung sống cùng gia đình nhà chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ thiếu sự quan tâm đến chị nên vợ chồng không có tiếng nói chung. Năm 2013, vợ chồng thống nhất để chị đi Đài Loan lao động và đến năm 2016 anh Đ cũng sang Đài Loan làm việc. Tại Đài Loan vợ chồng không làm việc cùng nhau mà chỉ thỉnh thoảng mới gặp nhau, vợ chồng ít thời gian dành cho nhau nên tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn. Đầu năm 2020, vợ chồng đã không còn gặp nhau, sống ly thân từ thời điểm này. Tháng 02/2023, chị về Việt Nam, anh Đ vẫn tiếp tục làm việc tại Đài Loan. Khi về Việt Nam chị có về nhà anh Đ được 02 ngày thì anh Đ gọi điện nói chuyện đuổi chị nên chị đã về nhà bố mẹ chị để ở. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
- Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011. Hiện nay đang ở cùng gia đình anh trai của anh Đ là anh Vương Văn Đ1. Cháu H có nguyện vọng muốn được ở với bố, chị đồng ý để anh Đ được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Trong thời gian anh Đ làm việc ở nước ngoài, đề nghị Tòa án tạm giao cháu H cho anh Vương Văn Đ1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về nước. Chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh Đ là 1.500.000đồng/tháng.
- Về tài sản chung, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Vương Văn Đ1 (là anh trai bị đơn) trình bày: Về thời điểm kết hôn như chị T trình bày là đúng. Anh Đ hiện nay đi làm việc tại Đài Loan nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Quá trình chung sống chị T và anh Đ lần lượt sang Đài Loan làm việc nhưng không chung sống cùng nhau. Anh Đ đã có ý định làm thủ tục ly hôn với chị T nhưng thời điểm đó chị T không về nước nên anh Đ đã tiếp tục sang nước ngoài làm việc. Anh Đ đã biết việc chị T có đơn xin ly hôn. Quan điểm của anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011. Anh Đ có quan điểm đề nghị được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, anh Đ đang ở nước ngoài nên nhờ anh và mẹ đẻ anh chăm sóc cháu H cho đến khi anh Đ về nước, anh và mẹ anh nhất trí. Việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là tự nguyện của chị T. Về tài sản chung, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh Đ đang đi làm xa nên anh đồng ý nhận các văn bản tố tụng thay cho anh Đ.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị T có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đ1 có quan điểm xin vắng mặt.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Vương Văn Đ; Giao cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011 cho đến khi trưởng thành. Tạm giao cháu H cho anh Vương Văn Đ1 (là bác ruột) nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ ở nước ngoài. Chị T cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh Đ là 1.500.000đồng/tháng. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Phan Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Vương Văn Đ. Anh Đ hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị T và gia đình anh Đ cung cấp địa chỉ, nhưng chị T và gia đình anh Đ không cung cấp được. Anh Đ1 anh trai của anh Đ xác định anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, anh đã thông báo về việc chị T có đơn xin ly hôn nhưng anh Đ không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; anh Đ1 có quan điểm xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh Đ và anh Đ1.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Vương Văn Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/12/2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Đ không có sự quan tâm đến chị T trong cuộc sống. Năm 2013, chị T đi Đài Loan lao động và sau đó anh Đ cũng sang làm việc tại Đài Loan. Mặc dù vợ chồng cùng làm việc tại Đài Loan nhưng không chung sống cùng nhau và không có sự quan tâm đến nhau trong cuộc sống. Từ năm 2020 vợ chồng đã sống ly thân và không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận xử cho chị T được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ có 01 con chung Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011. Cháu H có nguyện vọng muốn được ở với bố, chị T nhất trí. Anh Đ cũng có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.
Xét thấy, cần tôn trọng nguyện vọng của con chung, giao cho anh Đ được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011 cho đến khi trưởng thành. Anh Đ nhờ anh Đ1 (anh trai của anh Đ) chăm sóc cháu H chăm sóc cháu H trong thời gian anh đang làm việc ở nước ngoài. Do vậy, tạm giao cháu H cho anh Vương Văn Đ1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Đ về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ xác định việc cấp dưỡng là tự nguyện của chị T nên chấp nhận sự tự nguyện của chị T đề nghị được cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh Đ 1.500.000đồng/tháng.
Chị Phan Thị T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và phải chịu án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Vương Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho anh Vương Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vương Thị Thanh H, sinh ngày 17/6/2011 thời gian tính từ tháng 5/2024 đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Đ là 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 5/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày anh Vương Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu chị Phan Thị Thanh c thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Tạm giao cháu Vương Thị Thanh H cho anh Vương Văn Đ1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ không ở Việt Nam.
Chị Phan Thị T được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000305 ngày 21/11/2023 (chị T đã nộp đủ án phí).
Chị T còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh Đ1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị T ly hôn Vương Văn Đ, tranh chấp nuôi con chung
