Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2025/HS-ST

Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Tâm
  2. Ông Lê Tiền Giang

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Trọng P, sinh năm 2006, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Phước E và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/02/2025 đến nay (bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện P), bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Huỳnh Sơn B, sinh năm 2006, tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp Q, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ú và bà Sơn Thị P1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2025 đến nay (bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện P), bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Nguyễn Hữu L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Ú, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp Q, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.Vắng mặt.

* Người làm chứng: Phạm Nguyễn Anh K

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Trọng P và Huỳnh Sơn B có mối quan hệ quen biết nhau, cả hai cùng tạm trú tại phòng trọ số B, nhà trọ Trần Văn N thuộc tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/02/2025, P rủ B đi tìm cửa hàng điện thoại di động trên địa bàn thành phố T giả vờ hỏi mua điện thoại sau đó chiếm đoạt thì B đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, B giao xe mô tô biển số 84H6-8570 cho P điều khiển chở B đi tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đến cửa hàng Đ thuộc tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Hữu L làm chủ. Lúc này do không có ai trông coi tiệm điện thoại nên B và P quay về phòng trọ. Đến khoảng 20 giờ 24 phút cùng ngày, P điều khiển xe 84H6-8570 chở B tiếp tục đến tiệm điện thoại của L. P dừng xe cách tiệm điện thoại khoảng 100 mét, sau đó giao xe mô tô biển số 84H6-8570 lại cho B. Lúc này P đi bộ vào tiệm điện thoại gặp L và yêu cầu L cho xem lần lượt 04 chiếc điện thoại gồm Iphone 12 màu hồng, điện thoại OPPO A73 màu trắng, điện thoại Iphone 7 Plus màu xám và 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen. Lúc này L giả vờ nói với P cho L xin nước uống. L đi lấy nước cho P nhưng vẫn quan sát P, P liền lấy 04 điện thoại nêu trên bỏ chạy về hướng B đang ngồi đợi trên xe. L chạy đuổi theo và truy hô “cướp cướp”. Cùng lúc này ông Phạm Nguyễn Anh K nghe tiếng truy hô của L nên đuổi theo hỗ trợ bắt giữ P giao công an phường T. Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu xám; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen. Riêng B điều khiển xe mô tô biển số 84H6-8570 chạy khỏi hiện trường. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/02/2025, B đến Công an phường T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Công an phường T tạm giữ đồ vật liên quan gồm: 01 áo khoác màu đen; 01 quần dài màu đen (BL 08) (do Đỗ Trọng P giao nộp); 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 khẩu trang màu đen; 01 quần Kaki màu đen; 01 áo khoác màu nâu; 01 xe mô tô biển số 84H6-8507 (BL 09) (do Huỳnh Sơn B giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố T xác định: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng có giá trị 8.233.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 màu trắng có giá trị 2.800.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động

3

nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu xám có giá trị 2.900.000 đồng; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen có giá trị 3.533.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.466.000 đồng (BL 62).

Tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKSTU ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đỗ Trọng P và Huỳnh Sơn B về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như sau:

Về tội danh:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Trọng P và Huỳnh Sơn B về tội “Cướp giật tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Trọng P từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Sơn B từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 84H6-8570 nhãn hiệu WAYEC màu xanh đen. Kết quả điều tra xác định xe do ông Huỳnh Ú, sinh năm 1970, HKTT: xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh là cha ruột của bị cáo Huỳnh Sơn B đứng tên đăng ký xe. Ngày 27/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý vật chứng số 23 trả lại xe mô trên cho ông Ú, ông Ú đã nhận tài sản và không yêu cầu gì. Nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu xám; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, ngày 17/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định xử lý vật chứng số 19 trả lại tài sản nêu trên cho bị hại Nguyễn Hữu L, ông L nhận tài sản và không yêu cầu gì. Nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 quần dài có ghi dòng chữ adidas;áo thun ngắn tay, màu đen; 01 áo sơmi tay dài màu xám; 01 đôi dép màu vàng; 01 mũ bảo hiểm có ghi dòng chữ HONDA FI; 01 nón vải màu trắng xanh đỏ; 01 khẩu trang y tế màu trắng. Đây là các vật dụng cá nhân các bị cáo sử dụng khi phạm tội, hiện các bị cáo không yêu cầu được nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được về với gia đình, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.

Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra. Bị hại có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những đương sự nêu trên.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Ngày 08/02/2025, tại tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Đỗ Trọng P và Huỳnh Sơn B lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo P nhanh chóng giật 04 điện thoại gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu xám; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen, sau đó nhanh chóng tẩu thoát về phía Huỳnh Sơn B đang ngồi trên xe máy đợi sẵn. Tài sản các bị chiếm đoạt có tổng giá trị là 17.466.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra đến tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác. Như vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo P và B thực hiện đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, biết việc lợi dụng sở hở, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của bị hại và nhanh chóng tẩu thoát là vi phạm pháp luật nhưng vì thiếu suy nghĩ, trong lúc túng thiếu tiền trọ, tiền sinh hoạt cá nhân mà các bị cáo vẫn bất chấp hậu quả, quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

5

Vụ án có tính đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức. Trong vụ án, bị cáo P là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên vai trò của bị cáo là người thực hành, bị cáo B đứng ngoài cảnh giới, chuẩn bị phương án tẩu thoát nên vai trò của bị cáo là người giúp sức.

[4] Xét hành vi, mức độ phạm tội mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố T. Cần phải xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo bằng mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố đến tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo B, sau khi bị cáo P bị bắt, bị cáo B đã chủ động đến Công an phường T đầu thú. Như vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo tuổi đời còn trẻ và chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Như đã nhận định ở trên, các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cần xử phạt nghiêm các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo có điều kiện được giáo dục, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo P có vai trò chính trong vụ án nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo B.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự quy định

“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đã đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6

[10] Về xử lý về vật chứng:

Đối với xe mô tô 84H6-8570 nhãn hiệu WAYEC màu xanh đen do ông Huỳnh Ú đứng tên sở hữu. Việc bị cáo B sử dụng xe vào việc phạm tội, ông Ú không biết. Ngày 27/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý vật chứng số 23 trả lại xe mô trên cho ông Ú là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 quần dài có ghi dòng chữ adidas; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 áo sơmi tay dài màu xám; 01 đôi dép màu vàng; 01 mũ bảo hiểm có ghi dòng chữ HONDA FI; 01 nón vải màu trắng xanh đỏ; 01 khẩu trang y tế màu trắng; là tài sản của bị cáo sử dụng khi thực hiện tội phạm, hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố là phù hợp. Riêng đối với mức hình phạt đề nghị áp dụng là quá khắt khe, chưa tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của tội phạm mà các bị cáo thực hiện. Đại diện Viện Kiểm sát chưa xem xét, đánh giá toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát.

[13] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Trọng P, Huỳnh Sơn B phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2025.

    Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Sơn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2025.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  4. Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) quần dài màu đen 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) quần kaki màu đen; 01 (một) áo khoác màu nâu.

    (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2025)

7

  1. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Các bị cáo Đỗ Trọng P, Huỳnh Sơn B phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 24/6/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Phú Giáo;
  • - CCTHA TP. Tân Uyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 127/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trọng P và Huỳnh Sơn B bị xét xử về tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger