TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thu.
- Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, quận T, thành phố H. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- bà Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Đăng Q tìm hiểu nhau một thời gian thì quyết định kết hôn, ngày 23/10/2017 cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ ông Q ở thôn T, xã P huyện P, thành phố H, được một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, ông Q ham chơi, tụ tập bạn bè, gây nợ nần nên vợ chồng thường xuyên cải vã. Nay hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà Phạm Thị H khai vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 và cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020. Bà H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020 đến khi thành niên, đủ 18 tuổi và giao cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 cho ông Nguyễn Đăng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị H khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 12/3/2025, bị đơn- ông Nguyễn Đăng Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đăng Q và bà Phạm Thị H quen biết nhau thông qua người thân giới thiệu, sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bà H nghĩ ông Q cờ bạc, tụ tập bạn bè nhưng thực ra không phải. Nay bà H xin ly hôn thì ông Q không đồng ý, ông Q mong muốn vợ chồng đoàn tụ để con cái có đủ mẹ cha.
Về con chung: ông Nguyễn Đăng Q khai nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 và cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020. Trường hợp ly hôn, ông Q có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu vì bà H không có công việc ổn định, ông Q sợ không chăm sóc được các con.
Về tài sản chung và nợ chung: ông Nguyễn Đăng Q xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 12/3/2025, cháu Nguyễn Phạm Gia H1 có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, cho bà Phạm Thị H được ly hôn ông Nguyễn Đăng Q. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020 cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 cho ông Nguyễn Đăng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn- ông Nguyễn Đăng Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không do trở ngại khách quan, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Đăng Q chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà H, ông Q, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn; vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ chồng hiện tại không chung sống với nhau. Mặc dù ông Q có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng nhưng bà Phạm Thị H cương quyết ly hôn. Tòa án đã triệu tập ông Q tham gia phiên tòa để xét xử ly hôn nhưng cũng để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông Q không đến, chứng tỏ ông Q có thái độ bỏ mặc hôn nhân của mình. Như vậy, xét thấy vợ chồng ông Q và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q là đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 hiện đang ở cùng với ông Nguyễn Đăng Q và cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020 hiện đang ở cùng với bà Phạm Thị H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ, xác định ông Nguyễn Đăng Q hiện đang mở quán ăn, còn bà H thì phụ ở tiệm bánh. Ông Q, bà H đều có thu nhập ổn định đều có thể chăm sóc tốt cho con cái, đảm bảo về thể chất lẫn tinh thần. Xét về việc đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các cháu: Cháu Thủy T là nữ, đang còn nhỏ, nên cần giao mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là sẽ tốt cho cháu hơn; còn cháu Nguyễn Phạm Gia H1, mặc dù có nguyện vọng muốn ở với mẹ nhưng hiện tại cháu đang ở với bố, ông Nguyễn Đăng Q cũng có đầy đủ điều kiện để nuôi con, nên cần giao cháu H1 cho ông Q nuôi dưỡng là hợp tình, hợp lý, đúng quy định pháp luật; không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Đăng Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Thủy T, sinh ngày 21/10/2020 cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn Phạm Gia H1, sinh ngày 27/6/2017 ông Nguyễn Đăng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án không giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002571 ngày 26/02/2025.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 127/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 127/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hào - Nguyễn Đăng Quý
