Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - VĨNH LONG

Bản án số: 127/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17 tháng 12 năm 2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tùng Châu
  2. Bà Đặng Ngọc Thu

- Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Không.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Huỳnh Khánh L, sinh ngày 12/7/2003; căn cước công dân số [...]; ấp P, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

* Bị đơn: Biện Công C, sinh ngày 20/4/1994; căn cước công dân số [...]; địa chỉ ấp H, xã P, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/9/2025 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Khánh L trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian bà và ông Biện Công C tiến tới hôn nhân, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M (nay là xã B), tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/10/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay, cuộc sống của ai người đó sống, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Biện Công C. Về con chung, có 02 con chung tên Biện Hoài Bảo T, sinh ngày 29/3/2022 và Biện Hoài Bảo A, sinh ngày 10/10/2020, hiện nay các con do bà nuôi dưỡng; sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ/con, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và về nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Biện Công C không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn và nuôi con, bị đơn có địa chỉ tại xã B, tỉnh Vĩnh Long. Do đó đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn và nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Bị đơn Biện Công C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông C vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Huỳnh Khánh L, Hội đồng xét xử thấy: Bà L và ông C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện M (nay là xã B), tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/10/2021, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên đã ly thân từ năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông C biết việc bà L xin ly hôn nhưng ông C không có ý kiến phản đối, bỏ mặt bà L đơn phương ly hôn. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông C đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà L yêu cầu được ly hôn với ông C là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về quan hệ con chung: Bà L, ông C chung sống có 02 con chung tên Biện Hoài Bảo T, sinh ngày 29/3/2022 và Biện Hoài Bảo A, sinh ngày 10/10/2020, hiện nay các con đang sống chung với bà L. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng các con, cho các con ăn học đầy đủ; riêng ông C trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo cho ông C biết việc bà L yêu cầu được nuôi con nhưng ông không có ý kiến phản đối. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con, nên giao 02 con chung cho bà L nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, bà L là người yêu cầu cấp dưỡng nuôi con có địa chỉ tại xã B, huyện M (nay là xã B), tỉnh Vĩnh Long; căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP, ngày 30/6/2024 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì địa bàn này thuộc vùng III với mức lương tối thiểu tháng bằng 3.860.000đ. Căn cứ khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Đối chiếu quy định trên thì mức cấp dưỡng cho con không thấp hơn 1.930.000đ, tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bà L xác nhận ông C là lao động tự do, thu thập không ổn định cho nên bà chỉ yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000đ/con là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với các Điều 82, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Huỳnh Khánh L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Nguyễn Huỳnh Khánh L và ông Biện Công C mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Huỳnh Khánh L. Bà L được ly hôn với ông Biện Công C.
  2. Về con chung:

    Giao 02 con chung tên Biện Hoài Bảo T, sinh ngày 29/3/2022 và Biện Hoài Bảo A, sinh ngày 10/10/2020 cho bà Nguyễn Huỳnh Khánh L nuôi dưỡng. Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

    Ông Biện Công C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000đ/con (Một triệu năm trăm ngàn đồng), từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con tròn 18 tuổi.

    Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Huỳnh Khánh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí:

    Buộc bà Nguyễn Huỳnh Khánh L chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003202, ngày 26/9/2025 của Thi hành án Dân sự Vĩnh Long, bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Buộc ông Biện Công C chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh VL;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - THA DS VL;
  • - Các đ/s.
  • - UBND xã Bình Phước, tỉnh Vĩnh Long; (số 34, ngày 21/10/2021)
  • - Lưu: Hồ sơ,...

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tấn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 127/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger