|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:127/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 73/2025/QĐ-HPT ngày 19/5/2025 giữa:
* Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa;
* Bị đơn: anh Lê Hữu V, sinh năm 1997.
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc.
Tại phiên toà chị Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2025, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã tổ chức cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa vào ngày 11/3/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Thôn H, xã Đ được một thời gian khoảng 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến nhiều lần vợ chồng cãi vả, xung đột. Năm 2023 anh V đi xuất khẩu Lao động sang Hàn Quốc vợ chồng ít liên lạc và không còn quan tâm đến nhau, sau đó anh V có về và đến năm 2024 lại đi sang Hàn Quốc, từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Vợ chồng chị đã cố gắng cùng với gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả, thực tế anh chị đã sống ly thân từ 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện tại anh Lê Hữu V đã rời khỏi Việt Nam đi lao động ở Hàn Quốc, bản thân anh V cũng không thông báo, liên lạc với vợ con, không quan tâm gì đến gia đình.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L có đơn khởi kiện đề nghị TAND tỉnh Thanh Hóa cho ly hôn với anh Lê Hữu V.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022. Nay ly hôn chị xin được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
* Bị đơn là anh Lê Hữu V không có mặt tại địa phương và chị không biết địa chỉ cụ thể của chồng là anh ở đâu tại Hàn Quốc nên không thể cung cấp địa chỉ của anh cho Tòa án, chị cho biết anh V vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ ở thôn H, xã Đ, TP .. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh Lê Hữu V từ bố mẹ đẻ anh ấy và từ chính quyền địa phương.
Theo yêu cầu của chị L, ngày 16/4/2025 và ngày 02/5/2025. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng đại diện chính quyền địa phương tiến hành xác minh tại gia đình bà Bùi Thị L1 (mẹ đẻ anh V) ở Thôn H, xã Đ, TP . thì được biết:
Anh Lê Hữu V là con trai của bà, hiện anh V đang sinh sống, lao động tại Hàn Quốc, anh ấy vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh V.
Bà Bùi Thị L1 đã nhận các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V thay cho anh V và đã thông báo qua điện thoại cho anh Lê Hữu V các nội dung văn bản liên quan đến vụ án ly hôn nói trên.
Qua xác minh, bà L1 cho biết: Chị L và anh V tự do tìm hiểu và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kêt hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa, sau khi cưới thì anh chị sống tại nhà bà đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, anh V đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thế nào thì bà không nắm được, gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đầu năm 2025 chị L đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở. Hiện anh V con bà đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc địa chỉ cụ thể ở đâu bà không biết, thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình thông qua điện thoại. Khi Toà án đến làm việc và giao các thông báo về việc ly hôn giữa anh V và chị L thì bà mới biết, bà cho rằng, ly hôn là quyền của mỗi người nên tôn trọng quyết định của hai con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Về con chungg: bà L1 cho biết, vợ chồng anh chị L, V có 02 con chung tên là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022 từ nhỏ các cháu đã ở với mẹ, hiện tại chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì tôi đề nghị tòa án giải quyết theo quy định.
Về tài sản, công nợ chung của chị L và anh V thì bà không biết và cũng không có liên quan, yêu cầu gì nên không có ý kiến.
* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V kết hôn hợp pháp, nay mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải, chị L có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Lê Hữu V là đúng pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L không biết được địa chỉ của anh V ở đâu tại Hàn Quốc; anh V và gia đình anh không cung cấp địa chỉ cụ thể cho chị L và cho Tòa án, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không lấy được lời khai hay thu thập ý kiến của anh V và không thể tiến hành các thủ tục Tố tụng trực tiếp đối với anh V nhưng đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với anh thông qua người nhà của anh theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị được ly hôn với anh Lê Hữu V.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; chấp nhận việc chị L không yêu cầu anh V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị.
- - Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị 300.000 đồng. chị L đã nộp đủ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V các văn bản tố tụng của Tòa án; chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228; 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V.
- Về thẩm quyền: Tại Đơn khởi kiện ngày 21/3/2025, chị Nguyễn Thị L trình bày hiện tại anh Lê Hữu V đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, trên thực tế theo Công văn số: 754/PA08-T1 ngày 02/4/2025 của Phòng Q1 xác nhận Lê Hữu V đã xuất cảnh khỏi Việt Nam vào ngày 14/12/2024 qua cửa khẩu sân bay N bằng hộ chiếu số C9523623 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh trở lại.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Anh Lê Hữu V không có địa chỉ cụ thể tại Hàn Quốc nhưng thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. mẹ anh là bà Bùi Thị L1 đã nhận các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án ly hôn giữa anh V và chị L đồng thời cam kết sẽ thông tin các văn bản tố tụng liên quan đến việc ly hôn cho anh V biết.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Trong vụ án ly hôn, người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án giải quyết như sau:
- Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng trong vụ án cho mẹ anh Lê Hữu V là bà Bùi Thị L1. Do đó việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh V được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ,TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 11/3/2020 nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị L trình bày vợ chồng chị sau khi cưới sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống bất đồng, hay cãi nhau, anh chị đã ly thân từ 2023 đến nay. Anh V đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc từ năm 2023 và trên thực tế anh chị không còn quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn hòa giải đoàn tụ, chỉ muốn giải quyết ly hôn với anh V.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận giải quyết cho chị được ly hôn anh V theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Chị L và anh V có 02 con chung tên là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022, hiện 02 cháu đang sống cùng chị L và chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng cho việc nuôi con cùng chị.
Xét thấy nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi 02 con chung là chính đáng vì hiện nay anh V đang sinh sống, lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được.
Do đó để đảm bảo quyền lợi và điều kiện tốt nhất cho cháu, cần giao 02 cháu tên là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị L tự nguyện không yêu cầu anh V cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy chị L có công việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và đây là sự tự nguyện của chị nên HĐXX chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh V không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh chị yêu cầu thì có quyền khởi kiện tại Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, án phí phải nộp được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L
- - Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Lê Hữu V
- - Về con chung: Giao cháu tên là Lê Thị Hoài A, sinh ngày 01/8/2020 và Lê Hữu Quốc V1, sinh ngày 20/6/2022 là con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Lê Hữu V cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
- Anh Lê Hữu V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị L.
- Anh Lê Hữu V có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000650 ngày 15/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. (Chị L đã nộp đủ tiền án phí).
- Quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ Bản án.
Anh Lê Hữu V có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |
Bản án số 127/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 127/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
