Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – TÂY NINH

Bản án số: 127/2025/HNGĐ-ST

Ngày 02-12-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Phong;

Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Vương Lệ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 711/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh; Số CCCD: [...], do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 13/4/2021. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Anh Trần Bá K, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh; Số CCCD: [...], do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 08/9/2022. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – chị Nguyễn Ngọc T trình bày:

Chị T và anh Trần Bá K tự nguyện, tìm hiểu tiến đến hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường B, tỉnh Tây Ninh) vào ngày 10/5/2004. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì xảy ra mâu thuẫn, do anh K mê cờ bạc gây nợ, không lo làm ăn và lo lắng cho gia đình, trước đây anh K nhiều lần đánh đập chị, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 02 con chung là Trần Nguyễn Nhật N, sinh ngày 04/4/2005 và Trần Nguyễn Phúc L, sinh ngày 08/01/2010, chị T yêu cầu được nuôi con chung tên Phúc L, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con; con chung tên N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nợ ai, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị T tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Ngoài ra, chị T không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh K trình bày:

Anh và chị Nguyễn Ngọc T tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường B, tỉnh Tây Ninh) vào ngày 10/5/2004. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì xảy ra mâu thuẫn, do anh mê cờ bạc gây nợ, không lo làm ăn, không chăm sóc gia đình, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 02 người tên Trần Nguyễn Nhật N, sinh ngày 04/4/2005 và Trần Nguyễn Phúc L, sinh ngày 08/01/2010, anh K đồng ý giao con chung tên Phúc L cho chị T nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con; con chung tên N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh K không còn ý kiến gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh:

Về tố tụng: trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T1, anh L1 là đúng theo quy định pháp luật.

Căn cứ Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc T đối với anh Trần Bá K.
  2. Về con chung: giao con chung là Trần Nguyễn Phúc L, sinh ngày 08/01/2010 cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị T yêu cầu ly hôn với anh K và bị đơn là anh K có nơi cư trú tại: khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.

Về thủ tục tố tụng: anh K và chị T đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh K chung sống và đăng ký kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường B, tỉnh Tây Ninh). Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trong đời sống hôn nhân, chị T và anh K đều thừa nhận phát sinh nhiều mâu thuẫn, do thường xuyên bất đồng quan điểm và trong quá trình giải quyết vụ án, anh K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T và phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Trần Nguyễn Nhật N, sinh ngày 04/4/2005 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên Tòa án không giải quyết; Trần Nguyễn Phúc L, sinh ngày 08/01/2010, chị T và anh K thống nhất giao cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: chị T và anh K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[5] Về nợ chung: chị T và anh K trình bày không có nợ ai, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[6] Về án phí: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Q về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. 1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T về việc ly hôn với anh Trần Bá K. Chị T được ly hôn với anh K.
  2. 2. Về con chung: Trần Nguyễn Nhật N, sinh ngày 04/4/2005 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên Tòa án không giải quyết;

    Chị T và anh K thống nhất giao con chung là Trần Nguyễn Phúc L, sinh ngày 08/01/2010 cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

    Anh K có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. 3. Về tài sản chung: chị T và anh K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
  4. 4. Về nợ chung: chị T và anh K trình bày không có nợ ai nên không đặt ra giải quyết.
  5. 5. Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009733 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  6. 6. Về thời hạn kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND KV10;
  • - THADS KV10;
  • - UBND P.LH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/HNGĐ-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 127/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger