|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2025/DS-ST
Ngày 23-5-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Võ Thị Kiều Loan
- 2. Bà Trương Thị Kim Tiến
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Thoa-Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2025/TLST- DS ngày 22 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST - DS ngày 10 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A). Địa chỉ: B L, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V, Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Ngọc T, chức danh: Giám tổng A Chi nhánh Đ1 (vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 01 năm 2025 và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án đại diện nguyên đơn ông T đại diện Ngân hàng N (A) trình bày:
Bà Phạm Thị L có vay Ngân hàng N (A) số tiền là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) theo hợp đồng tín dụng số 6613LAV202102662 ngày 01/12/2021. Mục đích vay nuôi bò. Lãi suất tại thời điểm vay là 10%/năm ( Lãi suất hiện tại:10,8%/năm). Thời hạn vay: 60 tháng.
Định kỳ trả nợ gốc, lãi như sau:
| Ngày tháng năm | Số tiền gốc | Kỳ hạn trả lãi |
|---|---|---|
| 01/12/2022 | 600.000.000 | Theo kỳ trả nợ gốc |
| 01/12/2023 | 600.000.000 | |
| 01/12/2024 | 600.000.000 | |
| 01/12/2025 | 600.000.000 | |
| 01/12/2026 | 600.000.000 |
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay:
Hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có đảm bảo bằng tài sản.
Bà Phạm Thị L thế chấp cho A tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 113, 114, 468, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.015 m² (Bằng chữ: Một nghìn không trăm mười lăm mét vuông), loại đất: T, LM; thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L217606 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/07/1997, địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 210780 ngày 30/11/2021 giữa A Chi nhánh Đ1 với bà Phạm Thị Lệ .
Dư nợ hiện tại của bà Phạm Thị L tại A Chi nhánh Đ1:
Tính đến ngày 09/01/2025, bà Phạm Thị L còn nợ ngân hàng với số tiền là: 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm chín mươi sáu đồng), trong đó:
- + Số tiền gốc: 2.323.000.000 đồng;
- + Số tiền lãi: 485.988.296 đồng (Lãi vay tạm tính đến ngày 09/01/2025);
Đến thời điểm hiện tại, bà Phạm Thị L không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho A dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các Điều khoản về nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng đã ký với A Chi nhánh Đ1. Mặc dù đã được Ngân hàng thực hiện cơ cấu nợ, nhưng bà L vẫn không có phương án trả nợ khả thi. Sau nhiều lần gọi điện thông báo cũng như làm việc trực tiếp, đôn đốc trả nợ nhưng đến nay bà L vẫn không thanh toán được nợ vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Điều này dẫn đến toàn bộ số nợ gốc và lãi vay đã chuyển sang nợ quá hạn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vì vậy, A Chi nhánh Đ1 tiến hành khởi kiện thu hồi nợ đối với bà Phạm Thị Lệ .
2
Nay A yêu cầu:
A kính đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bà Phạm Thị L:
Buộc bà Phạm Thị L thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho A theo Hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền tính đến ngày 09/01/2025 là: 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng), trong đó:
- + Số tiền gốc: 2.323.000.000 đồng;
- + Số tiền lãi: 485.988.296 đồng (Lãi vay tạm tính đến ngày 09/01/2025);
- Buộc bà Phạm Thị L thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với A Chi nhánh Đ1 từ ngày 10/01/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho A.
- Trường hợp bà Phạm Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A, đề nghị Tòa án cho A yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản đã thế chấp tại A Chi nhánh Đ1 là quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 113, 114, 468, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.015 m² (Bằng chữ: Một nghìn không trăm mười lăm mét vuông), loại đất: T, LM, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 217606 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/07/1997, địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 210780 ngày 30/11/2021 giữa A Chi nhánh Đ1 với bà Phạm Thị L, công chứng chứng thực tại Văn phòng C. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thị L đối với A.
- Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà Phạm Thị L thì bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng bằng nguồn thu và các tài sản khác.
Bị đơn bà Phạm Thị L trình bày:
Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của, bà có vay số tiền vốn và thế chấp quyền sử dụng đất như A khởi kiện. Hiện nay bà không có khả năng thanh toán liền, bà đề nghị A cho bà thời gian khoản 01 năm bà bán tài sản sẽ trả.
Quan điểm kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác
3
minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung:
Xét việc A với bên bà Phạm Thị L thống nhất bà L có nợ A vốn và lãi 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: Số tiền gốc: 2.323.000.000 đồng; Số tiền lãi: 485.988.296 đồng (Lãi vay tạm tính đến ngày 09/01/2025). Thời hạn trả nợ do các bên không thống nhất nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà L phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/01/2025 cho A là 2.808.988.296 đồng. Kể từ ngày 10/01/2025 đến khi thi hành án xong đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà bà L phải trả lãi cho A theo mức lãi nợ quá hạn theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Trong trường hợp quyết định/bản án có hiệu lực mà bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cho cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi quyền sử dụng đất thế chấp bà bà L thế chấp A để đảm bảo việc thi hành án. Trường hợp đã kê biên toàn bộ quyền sử dụng đất mà không đủ để thanh toán hết nợ thì bà L tiếp tục trả nợ cho A đến khi hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của A nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L có hộ khẩu thường trú tại Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.
A người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, bà Phạm Thị L là người bị kiện được xác định tư cách là bị đơn. Ông Mai Văn T1 xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Thời hiệu khởi kiện: A yêu cầu bà L trả tiền thuộc trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên đối chiếu theo quy định Điều 155 Bộ luật dân sự nên không tính thời hiệu khởi kiện; A có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.
Quá trình tố tụng : A yêu cầu bà Phạm Thị L trả tiền vốn và lãi 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) thời gian tính lãi tính đến ngày 09/01/2025. Về
4
chứng cứ Tòa án đã thu thập được do A cung cấp gồm có: Hợp đồng tín dụng số 6613LAV202102662 ngày 01/12/2021. Chứng cứ bị đơn cung cấp bản tự khai.
Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.
Thời điểm phát sinh tranh chấp Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.
Tòa án lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự có yêu cầu.
Các đương sự xác định đã tiếp cận đầy đủ chứng cứ của nhau.
[2].Về nội dung:
Bà Phạm Thị L thừa nhận có vay A vốn và lãi 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) thời gian tính lãi tính đến ngày 09/01/2025 theo hợp đồng tín dụng số 6613LAV202102662 ngày 01/12/2021. Hội đồng xét xử công nhận đây là tình tiết sự thật vụ án không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Phạm Thị Lệ vi P nghĩa vụ trả nợ từ ngày 09/01/2023 mặc dù phía A nhắc nhở nhiều lần phía bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong quá trình Tòa án thu thập lời trình bày của bà L thống nhất khi nào bán đất được sẽ trả và bà hiện mất khả năng thanh toán là làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của A. Do đó cần buộc bà L trả cho A vốn và lãi 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) thời gian tính lãi tính đến ngày 09/01/2025 là phù hợp.
Trong trường hợp khi án có hiệu lực mà bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì A1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản quyền sử dụng đất theo quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 210780 ngày 30/11/2021 giữa A Chi nhánh Đ1 với bà Phạm Thị L, công chứng chứng thực tại Văn phòng C chứng thực. Cụ thể quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 113, 114, 468, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.015 m² (Bằng chữ: Một nghìn không trăm mười lăm mét vuông), loại đất: T, LM, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 217606 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/07/1997, địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
[3]. Về chi phí thẩm định: bà L phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) hoàn trả cho A.
5
[4]. Về án phí, theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án bà L được miễn án phí.
Vìcác lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A) tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” với bà Phạm Thị Lệ .
- Về chi phí thẩm định: bà Phạm Thị L phải nộp 3.000.000 đồng hoàn trả cho Ngân hàng N (A).
Buộc bà Phạm Thị L phải trả cho Ngân hàng N (A) số tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/01/2025 là 2.808.988.296 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 10/01/2025 đến khi thi hành án xong, bà L phải trả cho Ngân hàng N (A) tiền lãi theo lãi quá hạn của Hợp đồng tín dụng số 6613LAV202102662 ngày 01/12/2021 mà hai bên đã ký kết.
Trường hợp bà Phạm Thị L không trả nợ thì Ngân hàng N (A) được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 210780 ngày 30/11/2021 giữa A Chi nhánh Đ1 với bà Phạm Thị L, công chứng chứng thực tại Văn phòng C chứng thực. Cụ thể quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 113, 114, 468, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.015 m² (Bằng chữ: Một nghìn không trăm mười lăm mét vuông), loại đất: T, LM, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 217606 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/07/1997, địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Trong trường hợp sau khi phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng thế chấp nêu trên nhưng không đủ tiền trả nợ theo hợp đồng tín dụng nói trên thì bà L phải trả thêm cho đủ số nợ theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do
6
Ngân hàng N1 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị L được miễn án phí. H lại cho Ngân hàng N (A) số tiền là 44.090.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 0014788 ngày 15/01/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
- Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Thị Mộng Thúy |
7
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Trần Thị Đ – Nguyễn Thị Rạt Nguyễn Thị Mộng T2 |
8
9
10
11
Bản án số 127/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 127/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A " tranh chấp hợp đồng tín dụng " Phạm Thị L
