Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2025/DS-PT

Ngày: 25-6-2025

V/v "Tranh chấp hợp

đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.

Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Hồng Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2025/TLPT-DS ngày 22/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân huyện Đ bị kháng cáo.

Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2025/QĐ-PT ngày 16/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Mỹ L, sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Số nhà F, đường số C, tổ A, thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang V, sinh năm: 1992. Nơi thường trú: Số nhà B, T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Lê Ngọc D, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn D1, sinh năm: 2004. Nơi cư trú: Số nhà A, đường số C, tổ I, thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh D2, sinh năm: 1982. Nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông Đặng Quang V, các đương sự khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/6/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu khác có trong hồ sơ và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Đặng Quang V trình bày:

Do bà Lương Thị Mỹ L và bà Nguyễn Lê Ngọc D có mối quan hệ họ hàng nên từ năm 2021 đến năm 2022 bà L đã nhiều lần cho vợ chồng bà D và ông Lê Thanh D2 vay tiền để làm vốn kinh doanh bất động sản. Tổng số tiền bà L cho bà D vay là 450.000.000 đồng, bằng hình thức đưa tiền mặt và chuyển vào tài khoản ngân hàng. Cụ thể:

- Bà L cho bà D vay tiền mặt tổng cộng là 300.000.000 đồng, đưa làm nhiều lần, bao gồm:

  • + Ngày 07/09/2021, bà L cho bà D vay số tiền 50.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 31/12/2021.
  • + Ngày 16/09/2021, bà L cho bà D vay 40.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 31/12/2021.
  • + Ngày 18/09/2021, bà L cho bà D vay 30.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 31/12/2021.
  • + Ngày 10/11/2021, bà L cho bà D vay 30.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 31/12/2021.
  • + Ngày 16/12/2021, bà L cho bà D vay 30.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 16/04/2022.
  • + Ngày 17/1/2022, bà L cho bà D vay 40.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 17/05/2022.
  • + Ngày 18/03/2022, bà L cho bà D vay 80.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 18/06/2022.

- Bà L cho bà D vay bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Lê Ngọc D, tài khoản số [...], ngân hàng V1, tổng số tiền là 150.000.000 đồng, bao gồm các lần chuyển khoản như sau:

  • + Ngày 14/4/2022 bà L chuyển cho bà D số tiền 30.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 14/7/2022.
  • + Ngày 4/5/2022 bà L chuyển cho bà D số tiền 10.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 4/8/2022.
  • + Ngày 12/5/2022 bà L chuyển cho bà D số tiền 50.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 12/8/2022.
  • + Ngày 19/5/2022 bà L chuyển cho bà D số tiền 10.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 19/8/2022.
  • + Ngày 16/6/2022 bà L chuyển cho bà D số tiền 10.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 16/9/2022.
  • + Ngày 7/7/2022 số tiền 40.000.000 đồng, hạn trả tiền gốc là ngày 7/10/2022.

Hai bên thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, thỏa thuận trả lãi hàng tháng nhưng số tiền lãi bà D trả cho bà L không đều đặn, có tháng trả, tháng không trả và không đúng theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận. Ngày cuối cùng bà D trả lãi cho bà L là tháng 12/2022.

Bà D đã chuyển cho bà L tổng số tiền như sau:

  • - Tính đến ngày 03/01/2022, tiền gốc bà L đưa cho bà D tổng cộng là 180.000.000 đồng, vào ngày 03/01/2022 bà D chuyển khoản cho bà L 19.500.000 đồng tiền lãi.
  • - Tính đến ngày 29/01/2022 bà D chuyển cho bà L 11.000.00 đồng cho số tiền gốc 220.000.000 đồng.
  • - Tính đến ngày 02/3/2022, bà D trả cho bà L 11.000.000 đồng cho số tiền gốc 220.000.000 đồng.
  • - Ngày 02/4/2022 bà D trả cho bà L 15.000.000 đồng, cho tiền gốc 300.000.000 đồng.
  • - Ngày 03/5/2022, bà D trả cho bà L số tiền 17.200.000 đồng, cho số tiền gốc 330.000.000 đồng.
  • - Ngày 04/5/2022 bà D chuyển khoản cho bà L 17.200.000 đồng cho số tiền gốc 330.000.000 đồng.
  • - Ngày 15/5/2022 bà D chuyển cho bà L 3.000.000 đồng, lúc này gốc 390.000.000 đồng, L đưa thêm cho D vay 60.000.000 đồng nữa.
  • - Ngày 02/7/2022, bà D chuyển cho bà L 42.000.000 đồng, cho tổng nợ gốc 441.000.000 đồng. trong đó trả 20.000.000 đồng nợ gốc.
  • - Ngày 04/8/2022 bà D trả cho bà L 8.000.000 đồng cho tổng tiền gốc 450.000.000 đồng.
  • - Ngày 05/8/2022 bà D chuyển cho bà L 5.000.000 đồng, lúc này gốc là 450.000.000 đồng
  • - Ngày 05/9/2022 bà D chuyển cho bà L 6.000.000 đồng
  • - Ngày 8/9/2022 bà D chuyển cho bà L 8.200.000 đồng cho số nợ gốc 450.000.000 đồng.
  • - Ngày 03/10/2022 bà D chuyển cho bà L 13.200.000 đồng
  • - Ngày 04/11/2022 bà D chuyển cho bà L 5.000.000 đồng
  • - Ngày 15/12/2022 chuyển cho bà L 5.000.000 đồng cho 450.000.000 đồng

Tháng 01/2023 bà D không trả nổi tiền lãi cho bà L nữa, nên bà D xuống khóc lóc năn nỉ bà L cho mượn thêm tiền để làm sổ, tách sổ đỏ các thửa đất mà bà D mua để sang tên qua cho bà L cấn nợ. Bà L có đưa thêm cho bà D vay là 27.000.000 đồng, bà L chuyển khoản 9.000.000 đồng và đưa tiền mặt 18.000.000 đồng. Số tiền 18.000.000 đồng bà L vay của bà Lê Thị T, sinh năm 1984, địa chỉ tại: Số nhà D, đường B, tô A, thôn A, xã N, huyện Đ, bà L đưa cho bà D không có giấy tờ, vì lúc này bà L cũng rất lo lắng vì tiền lỡ đưa cho bà D quá nhiều mà bà D không trả nổi, mặt khác mẹ của bà D năn nỉ nên bà L đưa cho bà D mà không có giấy tờ, số tiền 27.000.000 đồng, bà D hứa trả cho bà L 2.000.000 đồng/tháng, bằng hình thức trả góp, do tiền này bà L mượn giùm cho bà D, đưa D 27.000.000 đồng, nhưng L lấy lại 30.000.000 đồng, lãi 3.000.000 đồng.

Từ tháng 01/2022 đến nay bà L nhiều lần yêu cầu bà D phải trả tiền gốc và lãi, nhưng bà D không có thiện chí trả tiền. Theo đơn khởi kiện bà L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Linh giải quyết: Buộc vợ chồng bà Nguyễn Lê Ngọc D và ông Lê Thanh D2 phải trả cho bà L số tiền gốc 450.000.000 đồng; Tiền lãi tạm tính của các khoản vay theo lãi suất 1.66%/tháng tính từ tháng 01/2023 là thời điểm cuối cùng bà D trả lãi cho bà L, tới thời điểm khởi kiện tháng 6/2024 là 17 tháng, như sau:

  • + Khoản vay ngày 07/09/2021, số tiền 50.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 50.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 14.110.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 16/09/2021, số tiền 40.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 40.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 11.288.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 18/09/2021, số tiền 30.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 30.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 8.466.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 10/11/2021, số tiền 30.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 30.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 8.466.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 16/12/2021, số tiền 30.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 30.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 8.466.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 17/01/2022, số tiền 40.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 40.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 11.288.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 18/03/2022, số tiền 80.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 80.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 22.576.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 14/04/2022, số tiền 30.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 30.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 8.466.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 04/05/2022, số tiền 10.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 10.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 2.822.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 12/05/2022, số tiền 50.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 10.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 14.110.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 19/05/2022, số tiền 10.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 10.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 2.822.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 16/06/2022, số tiền 10.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 10.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 2.822.000 đồng.
  • + Khoản vay ngày 7/7/2022, số tiền 40.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính 40.000.000 đồng x 1,66% x 17 tháng = 11.288.000 đồng.

Tổng tiền lãi tạm tính là: 126.990.000 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Tổng số tiền bà L yêu cầu vợ chồng ông D2, bà D trả cho bà là 450.000.000 đồng tiền gốc + 126.990.000 đồng tiền lãi, tạm tính là 576.990.000 đồng (năm trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Nhưng tại phiên tòa ông Đặng Quang V yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Lê Ngọc D và ông Lê Thanh D2 phải liên đới trả cho bà Lương Thị Mỹ L số tiền gốc là 324.105.000 đồng và 126.000.000 đồng tiền lãi.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn, ông Nguyễn Tấn D1 trình bày:

Do giữa bà D và bà L có mối quan hệ họ hàng, bà D có kể với bà L là bà D đang cho có lãi, nên bà L đưa tiền cho bà D cho vay giúp, bà D cho vay thu lãi đưa lại cho bà L mà không có hưởng lợi ích gì. Việc bà L đưa tiền cho bà D cho vay giúp không thông qua chồng của bà D. Tổng số tiền bà L đưa cho bà D và bà D chuyển trả cho bà L như sau:

Bà D có nhận của bà L 450.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận miệng là lãi suất 5%/tháng, trong đó có 300.000.000 đồng bà L đưa cho bà D bằng tiền mặt, còn 150.000.000 đồng là chuyển khoản, trong 150.000.000 đồng chuyển khoản thì có 10.000.000 đồng bà L chuyển nhờ bà D đưa tiền mặt lại cho bà L. Việc chuyển khoản không thỏa thuận thời hạn trả nợ gốc và không thỏa thuận tiền lãi. Tổng số tiền gốc mà bà L đưa cho bà D là 440.000.000 đồng. Từ ngày 16/11/2022 đến hết ngày 29/04/2024 bà D chuyển khoản trả cho bà L 210.600.000 đồng. Cụ thể việc bà D trả tiền cho bà L như sau:

  • - Tính đến ngày 03/01/2022, tiền gốc bà L đưa cho bà D tổng cộng là 180.000.000 đồng, vào ngày 03/01/2022 bà D chuyển khoản cho bà L 19.500.000 đồng tiền lãi.
  • - Tính đến ngày 29/01/2022 bà D chuyển cho L 11.000.00 đồng cho số tiền gốc 220.000.000 đồng.
  • - Tính đến ngày 02/3/2022, bà D trả cho bà L 11.000.000 đồng cho số tiền gốc 220.000.000 đồng.
  • - Ngày 02/4/2022 bà D trả cho bà L 15.000.000 đồng, cho tiền gốc 300.000.000 đồng.
  • - Ngày 03/5/2022, bà D trả cho bà L số tiền 17.200.000 đồng, cho số tiền gốc 330.000.000 đồng.
  • - Ngày 04/5/2022 bà D chuyển khoản cho bà L 17.200.000 đồng cho số tiền gốc 330.000.000 đồng.
  • - Ngày 15/5/2022 bà D chuyển cho bà L 3.000.000 đồng, lúc này gốc 390.000.000 đồng, bà L đưa thêm cho D vay 60.000.000 đồng nữa.
  • - Ngày 02/7/2022, bà D chuyển cho bà L 42.000.000 đồng, cho tổng nợ gốc 441.000.000 đồng. trong đó trả 20.000.000 đồng nợ gốc.
  • - Ngày 04/8/2022 bà D trả cho bà L 8.000.000 đồng cho tổng tiền gốc 450.000.000 đồng.
  • - Ngày 05/9/2022 bà D chuyển cho bà L 6.000.000 đồng
  • - Ngày 8/9/2022 bà D chuyển cho bà L 8.200.000 đồng cho số nợ gốc 450.000.000 đồng.
  • - Ngày 03/10/2022 bà D chuyển cho bà L 13.200.000 đồng
  • - Ngày 04/11/2022 bà D chuyển cho bà L 5.000.000 đồng
  • - Ngày 15/12/2022 chuyển cho bà L 5.000.000 đồng cho 450.000.000 đồng.

Theo bản tự khai ngày 09/9/2024 của ông Nguyễn Tấn D1 là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn có trình bày: Hiện tại bà D còn nợ của bà L 420.000.000 đồng nợ gốc, còn tiền lãi bà D đã trả cho bà L là 210.600.000 đồng thì trả theo mức lãi suất 5%/tháng, đề nghị Tòa án tính lại theo lãi suất 0.83%/tháng, tiền lãi trả dư cấn trừ vào nợ gốc, hiện tại bà D không có khả năng trả nợ nên yêu cầu nguyên đơn chấp nhận một trong hai phương án là cấn trừ nợ bằng thửa đất tại thôn E, xã T hoặc nguyên đơn cho bị đơn thêm thời gian để bán được đất sẽ trả nợ.

Bà D không đồng ý với việc bà L cho rằng vào tháng 01/2023 bà D có vay thêm của bà L 27.000.000 đồng, trong đó có chuyển khoản 9.000.000 đồng và đưa tiền mặt 18.000.000 đồng, 18.000.000 đồng do bà L vay của bà T. Bà D cho rằng đến cuối tháng 12/2022 thì bà không vay thêm tiền của bà L nữa mà các số tiền bà chuyển khoản cho bà L từ 8/3/2022 đến 29/4/2024 là tiếp tục trả lãi cho khoản vay 440.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh quyết định:

Căn cứ: khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 470, của Bộ luật Dân sự 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 126.106.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc vợ chồng bà Nguyễn Lê Ngọc D và ông Nguyễn Thanh D3 phải liên đới trả cho bà Lương Thị Mỹ L tổng số tiền là 450.884.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn đồng), trong đó có 324.105.000 đồng gốc và 126.779.000 đồng tiền lãi (lãi tính đến ngày 28/02/2025)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/3/2025, bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị đơn là người có kháng cáo vắng mặt.
  • - Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Về số liệu, cấp sơ thẩm tính toán bị nhầm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng.
  • - Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận. Số liệu tính toán của cấp sơ thẩm chưa đúng, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm xác định đúng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là người có kháng cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Trong khoản thời gian từ ngày 07/9/2021 đến năm 2022, nguyên đơn nhiều lần cho bị đơn vay tiền, trong đó nguyên đơn đưa tiền mặt theo các giấy mượn tiền ngày 07/9/2021, 16/9/2021, 18/9/2021, 16/12/2021, 17/01/2022, 18/3/2022 với tổng số tiền 300 triệu đồng và chuyển khoản là 150 triệu đồng, tổng cộng bị đơn vay của nguyên đơn là 450.000.000đồng.

Bị đơn thừa nhận trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2022 bị đơn có nhận của nguyên đơn tổng số tiền 450.000.000đồng theo như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, bị đơn xác định số tiền bị đơn vay của nguyên đơn chỉ có 440 triệu đồng, vì trong các lần nguyên đơn chuyển tiền thì có 10.000.000đồng là nguyên đơn chuyển khoản để nhờ bị đơn rút tiền giùm và bị đơn đã rút ra đưa cho nguyên đơn.

Ngoài lời trình bày thì bị đơn không cung cấp được tài liệu gì chứng minh số tiền 10.000.000 đồng bị đơn đã đưa lại cho nguyên đơn, đồng thời nguyên đơn không thừa nhận lời trình bày này của bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch vay tiền với tổng số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay là 450.000.000 đồng là có căn cứ.

[3] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn trên số tiền nợ gốc 450.000.000 đồng.

Từ ngày 03/01/2022 đến ngày 15/12/2022, bị đơn nhiều lần chuyển tiền trả lãi cho nguyên đơn. Các bên thống nhất lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định lại mức lãi suất theo quy đinh tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,66%/tháng và tính lại lãi suất bị đơn phải trả trên số tiền gốc theo từng giai đoạn là phù hợp. Tuy nhiên, Tòa sơ thẩm có nhầm lẫn trong quá trình tính toán nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại như sau:

Tổng nợ gốc và lãi vợ chồng bà D và ông D3 phải trả cho bà L là 324.475.796 đồng +144.766.300 đồng = 469.242.096 đồng.

Trừ số tiền mà bà D trả dư cho bà L thì tổng số tiền lãi và gốc mà vợ chồng bà D còn phải trả cho bà L là: 469.242.096 đồng - 20.246.020 đồng = 448.996.076 đồng.

[4] Bị đơn kháng yêu cầu hủy bản án sơ thẩm nhưng không đưa ra căn cứ nào. Cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

[5] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền 448.996.076 đồng phải trả cho nguyên đơn và phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Căn cứ: khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 470, của Bộ luật Dân sự 2015;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 126.106.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  3. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Lê Ngọc D và ông Nguyễn Thanh D3 phải liên đới trả cho bà Lương Thị Mỹ L tổng số tiền là 448.996.076 đồng.

    Kể từ ngày 01/3/2025 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Lê Ngọc D và ông Nguyễn Thanh D3 phải liên đới chịu 21.959.843 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Lương Thị Mỹ L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.540.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004632, ngày 24/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Lê Ngọc D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005272, ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA (02 bản), THA cấp huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HCTP - Tòa án tỉnh;
  • - Lưu: TDS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 127/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Mỹ L - Nguyễn Lê Ngọc D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger