|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2025/DS-PT |
|
|
Ngày: 24/3/2025 |
|
|
“V/v tranh chấp QSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình, ông Nguyễn Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 500/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lục Lệ N, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số H, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Bị đơn: Ông Tạ Thanh S, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ; địa chỉ hiện tại: Số E đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh T, sinh năm 1993; Địa chỉ: B, ấp E, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Đ; địa chỉ: Số E đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Tạ Thanh T1.
- Ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1969; địa chỉ: Số H, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lục Lệ N.
- Ông Tạ Thanh T1; Địa chỉ: Khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Tạ Thanh S.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Nguyên đơn bà Lục Lệ N khởi kiện trình bày: Năm 2007 vợ chồng bà có chuyển nhượng của ông Bùi Văn K diện tích đo đạc thực tế là 797,5m², thửa đất số 1390, tờ bản đồ số 15, toạ lạc khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2012 vợ chồng bà chuyển nhượng tiếp phần đất có diện tích 299,1m², thửa đất 1389, tờ bản đồ số 5 và phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/12/2012. Ông S đã lấn chiếm sang phần đất của bà có diện tích 118,9m² nên bà khởi kiện yêu cầu ông Tạ Thanh S trả lại diện tích đã lấn chiếm thuộc thửa 1389, tờ bản đồ số 15, Giấy GN QSDĐ số BN 131706, số vào sổ CH06158, do UBND quận B cấp ngày 18/12/2012. Đất tọa lạc tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn Tạ Thanh S trình bày: Do ông vắng mặt giai đoạn hòa giải và công khai chứng cứ. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 19/9/2024, ông Tạ Thanh S không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng:
Phần đất được ký hiệu E trong Bản trích đo địa chính số 669/VPĐKĐĐ ngày 05/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai là thuộc một phần thửa 3206 do ông đứng tên. Ông không đồng ý với Bản trích đo này vì: Phần đất tranh chấp là ranh đất giữa thửa 1389 của bà N với thửa 3206 của ông nên chỉ cần đo đạc hai thửa này. Các thửa 3197, 1390 của bà N không liên quan phần đất tranh chấp nhưng Hội đồng lại đo luôn các thửa đất này là không cần thiết. Hơn nữa, tại phần gạch nối của Bản trích đo có ghi chú “phần còn lại của thửa 3206” là không đúng vì phần đất này thuộc thửa 131 của mẹ ông tên Nguyễn Thị Đ, ông không sử dụng diện tích này. Do đó, ông đề nghị Hội đồng xét xử cho đo đạc lại phần đất tranh chấp, chỉ đo thửa 3206 của ông với thửa 1389 của bà N. Hoặc sử dụng Bản trích đo địa chính số 21/TTKTTNMT ngày 24/3/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C để giải quyết tranh chấp. Ông thống nhất ranh đất giữa thửa 3206 của ông với thửa 131 của bà Đ theo sự chỉ ranh của ông Tạ Thanh T1 (tức cạnh 15.13m của Bản trích đo). Ông khẳng định Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C xác định không đúng vị trí thửa 3206 của ông dẫn đến diện tích đất ông bị thiếu. Ngoài ra, phần đất ký hiệu C trong Bản trích đo không thuộc thửa 3206. Bởi vì, toàn bộ phần đất của bà N, của ông, của bà Nguyệt V trước kia là của một chủ. Sau đó, phân chia thừa kế ra từng phần và đầu ngoài của thửa đất còn một phần đất trống nhưng các hộ dân và bà N đã tự dồn đất lại, dẫn đến thửa 3197 của bà N thay đổi vị trí tạo một phần đất trống rồi mới đến thửa 3206. Khi ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà T2, ông có đo đạc cắm ranh đất, bà N đã ký xác nhận ranh với ông là vị trí các trụ đá ông đã cắm hiện tại. Do đó, ông yêu cầu xác định ranh đất hiện tại là tại cạnh 23.10m của Bản trích đo là bao gồm phần điện tích A bà N đang tranh chấp.
Ngoài ra, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cạnh thửa 3206 tiếp giáp thửa đất 1389 của bà N dài 23.05m nhưng Bản trích đo chỉ thể hiện dài 23.03m là không đúng. Ông yêu cầu Toà án căn cứ vào Bản trích đo địa chính số 21/TTKTTNMT ngày 24/3/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C để xác định ranh đất của thửa 3206 của ông và làm căn cứ giải quyết vụ án. Ngoài ra, thửa đất của ông Bùi Văn K trước đó chỉ có 1000m² nhưng không biết vì sao chuyển sang bà N được cấp giấy là 1.100m². Do đó, phần đất ký hiệu A của Bản trích đo thuộc một phần thửa 3206 của ông.
Phần đất ký hiệu A trong Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C là của ông Tạ Thanh S. Tuy nhiên, nếu Toà án xác định phần đất tranh chấp của bà N thì ông tự nguyện di dời cây trồng trên đất không tranh chấp.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 165/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lục Lệ N.
Buộc ông Tạ Thanh S trả lại diện tích 119,0m² có vị trí A, B của Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C (đính kèm).
Ghi nhận việc ông Tạ Thanh T1 tự nguyện di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh chấp tại vị trí A, B của Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 để trả phần đất trống cho bà Lục Lệ N.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử bị đơn ông Tạ Thanh S đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ Minh T đại diện ủy quyền của ông Tạ Thanh S trình bày: Phần đất tranh chấp tại vị trí A và B do bị đơn đang sử dụng. Nguyên đơn khởi kiện không chứng minh vị trí tranh chấp này là của nguyên đơn. Hơn nữa, bản án sơ thẩm tuyên buộc ông S trả lại cho bà N tại vị trí A và B nhưng chỉ tuyên trả 119m² là chưa đúng vì vị trí A là 119m² và vị trí B là 10,6m². Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Phía bà Lục Lệ N trình bày: Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, vì căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì đất của bà bị thiếu 119m². Do đó, bà yêu cầu giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn chứng minh phần đất tranh chấp là nguyên đơn vì căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị thiếu.Nếu cộng lại các phần đất thì đất của bị đơn dôi dư so với diện tích đất được cấp là 500m². Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên cần điều chỉnh lại diện tích vị trí A là 119m², vị trí B là 10,6m². Bản án sơ thẩm tuyên không cộng thêm vị trí B là thiếu sót nên điều chỉnh. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân quận Bình Thủy thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Năm 2007 nguyên đơn có chuyển nhượng của ông Bùi Văn K diện tích đo đạc thực tế là 797,5m², thửa đất số 1390, và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2012 nguyên đơn chuyển nhượng tiếp phần đất có diện tích 299,1m², thửa đất 1389 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào 18/12/2012. Nay, nguyên đơn kiện cho rằng ông S đã lấn chiếm sang phần đất của bà có diện tích 118,9m² và yêu cầu ông S trả lại. Phía ông S không đồng ý và cho rằng ông không lấn chiếm đất của nguyên đơn.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2004 giữa ông Bùi Văn K với bà Lục Lệ N chuyển nhượng thửa 1218 có diện tích 1.100m² nhưng qua đo đạc thực tế còn lại 1.089m². Bà Nguyệt căn cứ vào hợp đồng này để cấp giấy là phù hợp. Qua đo đạc thực tế, tại Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thể hiện nếu cộng luôn phần đất tranh chấp thì thửa 1390 và 1389 mới đủ diện tích 1.089m².
Trước đây bà N1 tranh chấp với bà Bùi Thị Nguyệt V tại thửa đất 3197 được Toà án giải quyết bằng Quyết định số 65/2023/QĐST-DS ngày 18/8/2023 Bà N2 được thi hành án và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 11469 ngày 10/02/2020. Hơn nữa, khi đo đạc ngày 08/8/2024 ông T1 thống nhất ranh đất thửa 3197 với thửa 131 của bà Đ, như vậy, ranh đất của thửa 3197 là cố định. Căn cứ vào sơ đồ mốc hoạ do bị đơn Tạ Thanh S cung cấp thì thửa đất của bà Nguyệt V, bà T2 (sau này chuyển nhượng cho ông S) và ông K (chuyển nhượng cho bà N2) là liền nhau không có khoảng trống. Do đó, có căn cứ cho rằng phần đất C trong Bản trích đo số 797/VPĐKĐĐ thuộc một phần thửa 3206 của ông S. Ông S không thừa nhận phần đất trống tại vị trí C là để lấn chiếm phần đất tại vị trí A và B của bà N2. Hơn nữa, phần diện tích E trong Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C xác định không nằm trong thửa 3206 của ông Tạ Thanh S. Chiều dài các cạnh của thửa 3206 so với Bản trích đo thì có so đo các cạnh là giống nhau. Tuy nhiên, căn cứ Bản trích đo địa chính số 1116/TTKTTNMT ngày 28/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, sự chỉ ranh của ông Tạ Thanh T1 và Quyết định số 82/2024/QÐST-DS ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ về việc công nhận sự thoả thuận giữa bà Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Quốc T3, có căn cứ cho rằng: Khi đo đạc phần đất tranh chấp giữa bà Đ với ông T3 thì bà Đ đã chỉ ranh qua một phần diện tích đất thửa 3206 của ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cập nhật trên Bản đồ địa chính, dẫn đến phần đất ông S bị thiếu 79,9m². Hơn nữa, phần đất của ông S chỉ ranh với bà Đ vào ngày 08/8/2024 cũng không đúng với ranh đất trên Bản đồ địa chính thể hiện. Dẫn đến diện tích đất của ông S bị thiếu nhưng không phải do lỗi của bà Lục Lệ N. Do đó, các trụ đá ông S cắm ranh trên phần đất A, B của Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ là chưa chính xác. Do đó, ông S có nghĩa vụ giao trả cho bà N diện tích đất tranh chấp tại vị trí A, B là phù hợp. Ghi nhận việc ông Tạ Thanh T1 tự nguyện di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh chấp tại vị trí A, B để giao trả đất trống cho bà N. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.
[3] Xét yêu cầu của ông S nhận thấy: Ông S không chứng minh được phần đất của ông bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà trái lại dôi dư. Diện tích thực tế đất của ông nhiều hơn 500m². Tại phiên thẩm định ngày 08/8/2024 ông S có mặt chỉ ranh thửa đất 3206 và phần đất tranh chấp cho Hội đồng định vị thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và ranh đất các bên chỉ trên thực tế; ông Tạ Thanh T1 (anh ruột ông S và là con ruột bà Nguyễn Thị Đ) và ông S có chỉ ranh đất giữa thửa 131 với thửa 3206 nhưng không thống nhất nhau. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm ngày 28/9/2024 ông S đồng ý với ranh đất ông T1 chỉ, vì ranh đất này ông T1 đã chỉ cho Hội đồng đo đạc trước đó khi giải quyết tranh chấp giữa bà Đ với ông Nguyễn Quốc T3 trong vụ kiện khác. Như vậy, Hội đồng thẩm định đã thực hiện đo đạc công khai trên cơ sở đương sự chỉ ranh. Đồng thời, định vị các thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên ông S yêu cầu đo đạc lại đất là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Đối với kháng cáo của ông S: Ông kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Đối với vị trí A và B: Bản án sơ thẩm tuyên giao vị trí A và B cho bà N nhưng lại không cộng thêm diện tích 10,6m² tại vị trí B là thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh thêm phần diện tích này.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lục Lệ N được nhận lại 300.000 đồng án phí theo biên lai số 0002286 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ. Ông Tạ Thanh S phải chịu 1.160.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
[7] Chi phí thẩm định tại chỗ: Số tiền 10.829.680 đồng. Bà Lục Lệ N phải chịu 6.192.340 đồng đã nộp và chi xong. Ông Tạ Thanh Sphải chịu 4.637.340 đông đã nộp và chi xong.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông S phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001072 ngày 11/10/2024 thành tiền án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Ông S đã nộp xong.
[9] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 164, Điều 175 Bộ luật dân sự 2015; Điều 167 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Tạ Thanh S.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lục Lệ N.
- - Buộc ông Tạ Thanh S trả lại cho bà Lục Lệ N diện tích 119,0m² có vị trí A và 10,6m² tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C (đính kèm).
- - Ghi nhận việc ông Tạ Thanh T1 tự nguyện di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh chấp tại vị trí A, B của Bản trích đo địa chính số 797/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 để trả phần đất trống cho bà Lục Lệ N.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lục Lệ N được nhận lại 300.000 đồng án phí theo biên lai số 0002286 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ. Ông Tạ Thanh S phải chịu 1.160.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
- Chi phí thẩm định tại chỗ: Số tiền 10.829.680 đồng. Bà Lục Lệ N phải chịu 6.192.340 đồng đã nộp và chi xong. Ông Tạ Thanh Sphải chịu 4.637.340 đồng đã nộp và chi xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông S phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001072 ngày 11/10/2024 thành tiền án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Ông S đã nộp xong.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Quyến |
Phạm Văn Bình |
Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 127/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 127/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
