Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2025/DS-PT

Ngày: 04/3/2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tâm

Bà Nguyễn Thu Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 269/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024, về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”. Do bản án sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 568/2024/QĐXX-PT ngày 18/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐPT-HPT ngày 09/01/2025; Thông báo mở lại phiên tòa soos24/2025/TB-TA ngày 11/02/2025 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Đắc Thúy H, sinh năm 1960

Ông Vũ Văn D, sinh năm 1959

Địa chỉ: C ở số E, A phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Bà Đắc Thúy H nhận ủy quyền cho ông Vũ Văn D. (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Quế H1, sinh năm 1960. Có mặt.

Ông Vương Đắc H2, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Bà Doãn Thị L, sinh năm 1943. Có mặt.

Ông Vương Trí A, sinh năm 1956 . Có mặt.

Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1964. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vương Đắc N, sinh năm 1941; anh Vương Đắc T, sinh năm 1969 vợ là Nguyễn Thị H3; anh Vương Đắc M, sinh năm 1972 (là chồng /con của bà L1) ủy quyền cho bà Doãn Thị L. ( Có mặt)

- Bà Đắc Thị X, sinh năm 1960 (vợ ông Vương Trí A) ủy quyền cho ông Vương Trí A. ( Có mặt)

- Bà Hữu Thị D1, sinh năm 1975 và cụ Thế Thị T1, sinh năm 1940 (Vợ/mẹ ông Vương Đắc H2) ủy quyền cho ông Vương Đắc H2. (Vắng mặt).

- Bà Đăng Thị L2, sinh năm 1961 vợ ông Nguyễn Quế H1 ủy quyền ông H1. ( Có mặt)

- Bà Trần Thị H4, sinh năm 1968 vợ ông Nguyễn Đăng Đ. ( Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Đắc Thúy H trình bày: Ngày 28/02/1996 bà có mua của chị gái bà là Đắc Thị H5 624 m² đất thuộc thừa số 50 tờ bản đồ địa chính năm 1991 địa chỉ tại Đ, xóm N, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội. Ranh giới thửa đất như sau: Phía đông giáp ông Nguyễn Đăng T2 (Thửa số 52) Phía nam giáp bà Đỉnh Thị N1 (Thừa số 41, nay thuộc quyền sở hữu của ông Vương Trí A) và ông Vương Đắc H2 (Thứa 42, nay ông Vương Đắc C cùng sử dụng chung với ông H2) Phía tây giáp ông Nguyễn Quế H1 (Thửa số 49) và ông Vương Đắc T3 (Thứa số 63) Phía bắc giáp bà Doàn Thị L3 (Là vợ ông Vương Đắc N thửa số 51). Sau khi nhận chuyển nhượng bà bỏ trống không sử dụng đến nay bà phát hiện đất của bà bị hụt 108m2; còn đất của ông Nguyễn Quế H1 tăng 50.8m2, bà Doãn Thị L tăng 32m², ông Vương Đắc H2 54m²

Ngày 25/10/2021 UBND xã C tổ chức hội nghị hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà với ông Nguyễn Quế H1, bà Doãn Thị L và ông Vương Đắc H2. nhưng không đạt được thỏa thuận. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q, Hà Nội buộc gia đình các ông bà bị đơn là ông H1, ông A, ông Đ, bà L và ông H2 phải trả lại bà diện tích đất theo bản đồ năm 1991 là 624m² mà các bị đơn đã lấn chiếm của gia đình bà. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H khởi kiện bổ sung đối với phần đất giáp danh của nhà ông Vương Trí A và ông Nguyễn Đăng Đ. Nguyên đơn bà H đề nghị các bị đơn trả lại cho bà phần đất đã lấn sang cụ thể: Ông Nguyễn Quế H1 30m²; ông Vương Đắc H2 60m²; bà Doãn Thị L 60,38m²; ông Vương Trí A 36,2 m²; ông Nguyễn Đăng Đ 21,3m².

Về phần đất liên quan đến hộ nhà ông T3 đến nay bà không yêu cầu khởi kiện.

* Tại bản tự khai và các biên bản làm việc, bị đơn bà B Doãn Thị L trình bày: Bà không lấn đất của bà H. Bà H không ở địa phương nên đất đến đâu bà cũng không rõ, theo bà thì bà H khởi kiện là không rõ ràng vì đất nhà bà là đất thổ cư ở từ năm 1975, thửa số 121, tờ bản đồ 8, diện tích 650m2, 1 sào 2 thước, đất này hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận, đến năm 1980 mua thêm 1 mét ngang chiều dài 24 m của ông Vương Đắc T4 có giấy mua bán viết tay. Năm 1998 bà nhận lại phần đất của e trai là Vương Đắc T5 vợ là N2 diện tích 70m² có giấy viết tay hai bên. Quá trình sử dụng bà có xây thành 3 khuôn viên nhà ở để cả gia đình các con ở, bà không lấn đất nhà bà H.theo bản đồ năm 1991 và bà nhận phần đất của e bà thì tổng diện tích của bà là 744m2.

* Tại bản tự khai và các biên bản làm việc, bị đơn ông H1 trình bày: Về nguồn gốc đất của bà H là mua của ông Vương Đắc T4. Hai bên mua bán với nhau chúng tôi không được chứng kiến nên không biết phần diện tích ông T4 chuyển nhượng cho bà H đã trừ bỏ phần của ông Vương Đắc N và ông Vương Đắc T3 chưa.

Năm 1996, các hộ gia đình hạ đất thì một số hộ ở trên đỉnh đồi chưa hạ hết phần diện tích, đến nay, các hộ ở trên đó vẫn đủ diện tích. Nên diện tích nhà bà H có thiếu thì là do thiếu do các hộ ở phía trên dịch xuống chứ không liên quan đến gia đình ông vì thửa đất nhà ông từ trước khi chưa hạ đất lúc nào cũng cao hơn khoảng hơn 02 mét (hai mét) nên không có cơ sở để ông lấn sang thửa đất nhà bà H được.

Diện tích nhà ông có chênh lệch so với bản đồ 1991 có hai lý do. Thứ nhất về phía mặt giáp ngõ bê tông có làm ra ngoài so với hộ ông Vương Đắc M1 nay là ông Vương Đắc H2. Theo bản đồ 1991 nhà ông thụt so với hộ ông H2 khoảng 01 mét (một mét). Thứ hai ông được biết nếu theo đo đạc trước đây khi làm bản đồ có được tính dung sai cứ 100m² dung sai trên dưới 7 mét vuông.

Ông đề nghị Tòa án xem xét về việc trước kia gia đình ông Vương Đắc T4 đã chuyển nhượng cho gia đình bà Doãn Thị L và ông Vương Đắc T3 phần diện tích là bao nhiêu mét tức là diện tích của bà H sử dụng so với bản đồ năm 1991 đã trừ phần diện tích mà ông Vương Đắc T4 đã chuyển nhượng cho hai hộ trước khi chuyển nhượng cho bà Đắc Thị H5.

Đề nghị xem xét phần diện tích của gia đình ông Vương Trí A trước đây là đất của cụ Đinh Thị N3 là mẹ đẻ ông A là không có ngõ đi vào các hộ như hiện nay. Khi các hộ tự giải quyết với nhau về danh giới nên đã có sự dịch chuyển không đúng so với bản đồ năm 1991

* Tại bản tự khai và các biên bản làm việc, bị đơn ông Vương Trí A trình bày: Về yêu cầu khởi kiện của bà H ông không đồng ý. Nhà ông không lấn đất.

Về thửa đất 186 của ông có nguồn gốc ban đầu là của cha ông để lại cho ba anh em nhà ông. Ông được chia 419m². Ông có để lại để làm đường ngõ xóm là 2% thì tôi hết 9m² (419-9=410). Sau đó ông hiến ra 30m² để làm ngõ xóm nữa vậy diện tích của ông còn là 410-30 còn khoảng hơn 380m².

* Tại bản tự khai và các biên bản làm việc, bị đơn ông Vương Đắc H2 trình bày: ông không lấn đất sang nhà bà H việc Bà H khởi kiện ông là không có căn cứ do đất nhà ông do cha ông để lại đã được xây dựng kiên cố lâu đời và đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 đứng tên chủ sử dụng là ông Vương Đắc H2.

* Tại bản tự khai và các biên bản làm việc, bị đơn ông Nguyễn Đăng Đ trình bày: Đất là do cha ông để lại cho ông việc bà H khởi kiện theo ông thì Tòa án căn cứ vào bản đồ năm 1991 để trả đủ diện tích đất cho ông.

Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất tại kết quả thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp do Tòa án tiến hành, thể hiện:

  • Thửa đất số 314, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng bà Đắc Thúy H, diện tích là 435,9m²;
  • Thửa số 186, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Vương Trí A, diện tích là 386,8m²;
  • Thửa số 308, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Nguyễn Đăng Đ, diện tích là 425,6m²;
  • Thửa số 206, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Vương Đắc N (bà Doãn Thị L), diện tích 720,9m²;
  • Thửa số 197+351+352, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Vương Đắc T3, diện tích là 900,4m²;
  • Thửa số 306, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Nguyễn Quế H1, diện tích là 562,2m²;
  • Thửa số 166+139, tờ bản đồ số 14, chủ sử dụng ông Vương Đắc H2, diện tích là 843,3m²;

Theo chứng thư của Công ty thẩm định giá, cụ thể:

Giá trị quyền sử dụng đất: 2.397.450₫

Tài sản gắn liền với đất (thửa số 206 bà L +306 ông H1 +308 ông Đ): 6.372.968₫: Gồm:

  • Phần giá trị giáp hộ bà L móng gạch là 2.162.160₫
  • Phần giáp hộ ông Đ 01 bức tường 2.810.000₫
  • 02 cây xoan: 240.000₫
  • 02 cây mít:800.000₫
  • 01 cây xấu: 360.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đắc Thúy H về việc đòi lại quyền sử dụng đất tiếp giáp diện tích đất hộ bà Doãn Thị L, hộ ông Nguyễn Đăng Đ, ông Nguyễn Quế H1;

    Buộc bà Doãn Thị L, ông Vương Đắc N phải trả lại bà H diện tích đất là 31.9m² kích thước các cạnh là 2.49m x 28.28 m x 27.33m. giới hạn bởi các điểm 10.11.12; (có vị trí và hình thể được mô tả ở sơ đồ kèm theo bản án.

    Buộc ông Nguyễn Đăng Đ phải trả lại cho bà H diện tích 22.4m² giáp đất bà H có kích thước các cạnh là 2.07m giáp nhà ông A, 1 cạnh là 2.38m giáp nhà bà L; cạnh giáp bà H 11.08m; cạnh giáp đất ông Đ 9.96m; giới hạn bởi các điểm 14,15,16,17,14; (có vị trí và hình thể được mô tả ở sơ đồ kèm theo bản án.

    Buộc ông Nguyễn Quế H1 phải trả lại bà H diện tích đất 10.2m² giáp bà H có kích thước các cạnh giáp bà H 8.0m giáp ông H2 0.38m, cạnh giáp ông T3 2.20m; được giới hạn bởi các điềm 1.2.3.4,1. (có vị trí và hình thể được mô tả ở sơ đồ kèm theo bản án.

    Ông Đ phải tự dịch chuyển bức tường và cây cối trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho bà H; Bà L phải tự tháo dỡ công trình xây dựng gồm cả công trình ngầm trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho bà H.

  2. Giành quyền khởi kiện cho bà H đối với phần đất bị trồng lấn tiếp giáp đất của ông T3 bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
  3. Xác định Phần tiếp giáp nhà ông Vương Trí A và ông Vương Đắc H2 không có trồng lấn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông A, ông H2.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm ngày 20,21 tháng 05 năm 2024 các ông Nguyễn Quế H1, bà Đắc Thúy H, ông Nguyễn Đăng Đ, bà Doãn Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; Các Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn và các Bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn và các bị đơn làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Đăng Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó coi như ông Đ đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo, nên Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng của ông Nguyễn Đăng Đ.

Về người tham gia tố tụng: Xét thấy quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Vương Đắc H2, ông Nguyễn Đăng Đ đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn và các Bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 314 tờ bản đồ số 14 tại xã C, huyện Q, Thành phố Hà Nội là do bà Đắc Thúy H nhận chuyển nhượng lại của chị gái là bà Đắc T6 Hường có tên trong sổ mục kê năm 1991 diện tích là 624m².

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều thừa nhận phần đất tranh chấp mà bà H khởi kiện là đất có nguồn gốc thế hệ cha ông để lại. Trước đây là một phần của quả đồi. Năm 1998 theo chủ trương của xã C thì toàn bộ các hộ dân ở đây được hạ mặt bằng xuống như hiện nay, sau khi hạ mặt bằng năm 2010 Ủy ban nhân dân xã đã tiến hành đo đạc lại diện tích đất của các hộ.

Theo bà H trình bày: Sau khi xã tiến hành đo đất và giao đất cho các hộ dân thì bà mới biết diện tích đất của gia đình bà bị hụt đi hơn 100m2, ngay sau đó bà đã có đơn gửi ra Ủy ban xã nhiều lần và Ủy ban nhân dân xã đã giải quyết, theo kết luận của Ủy ban xã thì đất của bà thiếu 100m2, còn các hộ khác thừa. Do đó bà đề nghị Tòa án buộc các hộ phải trả lại đất cho gia đình bà.

Các đồng bị đơn đều khẳng định không lấn sang đất của bà H, giữa các hộ không có tranh chấp gì, chỉ hộ bà H đi kiện là do bà H không sinh sống trên đất không ở quê từ xưa đến nay cũng chẳng biết diện tích đất của mình nhận lại và thực tế là bao nhiêu nên cho rằng những nhà hàng xóm lấn sang. Các bị đơn không đồng ý với yêu cầu của bà H và đề nghị Tòa án xem xét trả đủ diện tích của các hộ theo bản đồ năm 1991.

Xét thấy, Theo kết quả đo đạc thực tế so với bản đồ đo đạc vlap năm 2010 thì có sự chênh lệch diện tích đất của bà H, thực tế theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất được Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ thì diện tích đất của bà H là 435.9m² trong khi bản đồ vlap lại có diện tích là 524.0m² . Mặc dù bà H khởi kiện đòi lại diện tích đất theo bản đồ năm 1991 nhưng xét thấy chỉ có thể chấp nhận yêu cầu của bà H theo kết quả đo đạc của bản đồ vlap năm 2010, vì bản đồ vlap năm 2010 đã được Sở T7 còn bản đồ đo đạc năm 1991 và năm 1998 là sơ đồ hiện trạng tại thời điểm đo đạc chưa được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu công nhận nên chưa có gía trị pháp lý, mặt khác quá trình sử dụng đất giữa các hộ đã có sự biến động hiện trạng, khi đo đạc bàn đồ vlap tại thời điểm 2010 thời điểm hiện nay các hộ đã có sự thống nhất về danh giới và đo đạc số hóa theo tỉ lệ có độ chính xác cao.

Sau khi lồng ghép kỹ thuật giữa số hóa của bản đồ vlap vào kết quả hiện trạng thực tế xác định được phần diện tích đất của Bà H còn thiếu là 89,5m2 do có trồng lấn từ đất Bà Doãn Thị L, đất ông Vương Đăng Đ1, đất ông Nguyễn Quế H1 và ông Vương Đắc T3, cụ thể: phần tiếp giáp sang các hộ: Phần đất tiếp giáp nhà bà L là 31.9m2 có 3 cạnh là cạnh giáp ông N là 27.33m, cạnh giáp bà H 28.28 m, giáp ngõ đi 2.49m; phần đất tiếp giáp nhà ông Đ1 diện tích 22.4m2 có cạnh là 2.07m giáp nhà ông A, 1 cạnh là 2.38m nhà ông Đ1, cạnh giáp bà H 11.08m; cạnh giáp đất ông Đ1 9.96m; phần đất tiếp giáp nhà ông H1 diện tích 10.2m2 cạnh giáp bà H 8.0m giáp ông H2 0.38m, cạnh giáp ông T3 2.20m; phần đất tiếp giáp ông T3 25m2 cạnh giáp ông H1 2.2m, cạnh giáp nhà đất ông T3 (0.21 +17.45)m phía giáp ngõ đi là 0.33m, phía giáp đất bà H có cạnh là (8.75m+5.24m+4.15m). Phần tiếp giáp nhà ông Vương Trí A và ông Vương Đắc H2 không có trồng lấn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông A và ông H2. Ông H2 không sử dụng đất chung với ông Vương Đắc C vì đã được tách thửa riêng phía giáp với bà H là ông H2 nên không cần thiết phải đưa ông Vương Đắc C tham gia tố tụng.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay Bà H không khởi kiện phần đất nhà ông T3, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này bà H có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đắc Thúy H và buộc bà Doãn Thị L phải trả lại cho bà H 31,9m² giới hạn bởi các điểm 10.11.12; ông Nguyễn Quế H1 phải trả lại cho bà H6 10,2m² giới hạn bởi các điểm 1.2.3.4; ông Vương Đăng Đ1 phải trả lại cho bà H 22,4m², giới hạn bởi các điểm 14,15,16,17,14 và buộc ông Đ1 phải tự dịch chuyển bức tường và cây cối trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho bà H; Bà L phải tự tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và công trình ngầm để trả lại quyền sử dụng đất cho bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đắc Thúy H và các Bị đơn là ông Nguyễn Quế H1, bà Doãn Thị L, nên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

* Về án phí: Do các đương sự đều là người cao tuổi, nên miễn toàn bộ án phí cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 147, Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ: khoản 5 Điều 21 Luật đất đai năm 1987; khoản 3 Điều 38 Luật đất đai năm 1993 và khoản 2 Điều 136 Luật đất đai năm 2003;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đăng Đ.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho các đương sự do đều là người cao tuổi
  4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện Q;
  • - Chi cục THADS huyện Q;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 127/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà H, ông D và bị đơn là ông H1, H2,...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger