Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THƯỜNG TÍN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/HSST
Ngày 03/12/2024.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Khương – Bí thư Đoàn thành niên xã Tiền Phong huyện Thường Tín và ông Nguyễn Hiếu Luân - Cán bộ hưu huyện Thường Tín;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 03/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 12/11/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/HSST-QĐ ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Tuấn Y, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2009; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; con ông Hoàng Tuấn C, sinh năm: 1980 và con bà Lê Thị V, sinh năm: 1985; vợ, con: Chưa.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).

  2. Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2009; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; con ông Đỗ Thái H1, sinh năm: 1984 và con bà Dương Thị H2, sinh năm: 1986; vợ, con: Chưa.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).

  3. Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 2005; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1965 và con bà Nguyễn Thị Thúy H3, sinh năm: 1974; vợ, con: Chưa.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).

*Người đại điện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Tuấn Y là ông Hoàng Tuấn C, sinh năm: 1980 (Bố đẻ Y), HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

*Người đại điện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Văn H là ông Đỗ Thái H1, sinh năm: 1984 (Bố đẻ H), ông H1 ủy quyền cho bà Dương Thị H2, sinh năm: 1986 (mẹ đẻ bị cáo); HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

*Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tuấn Y và Đỗ Văn H (Thuộc diện người bị buộc tội dưới 16 tuổi) là bà Đỗ Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt).

* Người bị hại:

  1. Cháu Trương Đình T2, sinh năm 19/7/2008; HKTT và nơi ở: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp là bà Đặng Thị P (Mẹ đẻ). (Vắng mặt).
  2. Cháu Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 02/6/2008, HKTT và nơi ở: Thôn G, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp là anh Nguyễn Văn V1 (Anh trai). (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị T3, sinh năm 2001, HKTT: Đội 7, H, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Quốc L1, sinh năm 1977, HKTT: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án thể hiện:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Hoàng Tuấn Y, sinh năm 11/02/2009, HKTT: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội và Đỗ Văn H, sinh năm 25/02/2009, HKTT: Thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội đã nhiều lần thực hiện hành vi cướp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng cuối tháng 5/2024, Đỗ Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 29M1- 806.03 chở Hoàng Tuấn Y đi đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn T, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội thấy có 02 nam thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang điều khiển xe đạp điện hướng từ Bệnh viện T5 đi xã H. Lúc này, H điều khiển xe mô tô vượt lên chặn đầu xe mô tô của 02 nam thanh niên, yêu cầu dừng lại rồi Yên đe doạ cướp được 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6s plus màu bạc, số imei: 35863107031494, không lắp sim. Sau khi cướp được chiếc điện thoại trên, Y đã đã sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc cá nhân.

Ngày 27/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã Yêu cầu định giá 01 (một) điện thoại iphone 6s plus màu bạc, số imei: 35863107031494, đã qua sử dụng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐG ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) điện thoại iphone 6s plus màu bạc, số imei: 35863107031494, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá 1.433.000 đồng. Tổng giá trị định giá tài sản là: 1.433.000 đồng.

Vụ thứ hai: Ngày 03/6/2024, Hoàng Tuấn Y điều khiển xe mô tô, BKS: 29M1- 806.03 đến nhà Đỗ Văn H ở thôn P, xã H, huyện T rủ H đi cướp tài sản để lấy tiền tiêu xài, Hoà đồng ý. Sau đó, Y điều khiển xe mô tô chở H đi đến đường N gần cây xăng Tó thuộc địa phận xã N, huyện T, thành phố Hà Nội, phát hiện thấy cháu Trương Đình T2, sinh năm 19/7/2008; HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đang đeo bao vợt cầu lông màu đen, bên trong có chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining đi xe đạp điện màu đỏ phía trước cùng chiều. Lúc này, Y bảo H vượt lên, ép chặn đầu xe đạp điện bắt cháu T2 dừng lại, Y xuống xe nói: "Đm mày đi theo tao", cháu T2 sợ hãi nói: "Em xin các anh", Y nói mày phải đi theo tao nhưng T2 không đồng ý và nói: "Anh tha cho em để em đi đánh cầu lông" nhưng H và Y không đồng ý, H nói: "Đm đi theo chúng tao", Y lên xe đạp điện chở cháu T2 ngồi phía sau, còn H điều khiển xe mô tô đi bên cạnh đến trước cửa quán cơm “Gia Huy” tại xã N, huyện T, thành phố Hà Nội, H vào trong quán gọi cơm ăn, còn Y đứng ngoài cửa quán bắt cháu T2 đứng im, cấm chạy, Y dùng chìa khóa xe đạp điện mở cốp nhưng không thấy có tài sản gì, Y nói với cháu T2 “Đưa vợt đây tao xem nào” nhưng T2 không đưa mà xin tha nên Y đưa nắm đấm lên dọa và nói “Mày đưa vợt hay như nào muốn mất chìa khóa xe hay mất vợt” rồi Y dùng tay trái lấy túi vợt cầu lông khỏi lưng cháu T2, do sợ bị đánh nên T2 không dám rằng lại, Y mở túi lấy 01 chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining. Sau đó, Y điều khiển xe mô tô chở H đi đến cửa hàng “Hệ thống cửa hàng C2" thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội bán chiếc vợt cầu lông cho chị Lê Thị T3, sinh năm 2001, HKTT: Đội 7, H, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội là chủ cửa hàng với giá 300.000 đồng, Y chia cho H 150.000 đồng, số tiền này Y, H đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 03/6/2024, cháu Trương Đình T2 đã đến Công an huyện T trình báo sự việc.

Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã có yêu cầu định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS, ngày 15/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • 01 (một) chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining Axforce cannon, màu đen, đã qua sử dụng có giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
  • 01 (một) dây cuốn cán vợt cầu lông màu hồng, đã qua sử dụng có giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng).

Tổng giá trị định giá tài sản là: 505.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ 30 ngày 05/6/2024, Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H và Nguyễn Thanh T, sinh năm 10/8/2005, HKTT: Thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đến Nhà văn hoá thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội chơi rồi Y rủ H, T đi cướp bình ắc quy xe đạp điện để bán lấy tiền tiêu sài, Y nói với T "Mày cho tao mượn xe, tao đi cướp cái bình ắc quy bán lấy tiền", T đồng ý và nói "Đi về thì cho tao đi ăn và đổ xăng cho tao", Y đồng ý rồi Y nói với H "Tôi với bạn đi cướp", Hòa đồng Ý nói: "Đi thôi", còn T không đi. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, không có biển kiểm soát chở Y đi đến khu vực trạm bơm xã N, huyện T, thành phố Hà Nội, Y và H thấy anh Nguyễn Hoàng Phi L, sinh 02/6/2008, HKTT: Thôn G, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội đang điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Xmen không BKS chở anh Lê Văn T4, sinh năm 2007, HKTT: Thôn G, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội đi phía trước cùng chiều. Lúc này, H điều điều khiển xe mô tô áp sát xe anh L, còn Y ngồi sau nói: “Đ.m mày thích chết không, đứng lại”, anh L và anh T4 dừng xe lại thì Y và H đến gần chửi anh T4 nói “Đ.m thằng kia xuống xe cho nó chở tao về”. T4 hoảng sợ nên xuống xe, Y ngồi sau xe đạp điện do anh L điều khiển. H điều khiển xe mô tô đi theo sau. Khi đi đến đoạn đường đê khu vực cầu mới xã T, Y bảo anh L dừng lại và nói “Mày mở bình ắc quy xe ra cho tao”, anh L nói: “Thôi em xin các anh”. Khi anh L dừng xe lại thì Y xuống xe rồi tiếp tục chửi: “Mày thích chết không, không đưa bố mày ném xuống sông bây giờ” đồng thời giơ nắm đấm tay phải lên doạ đánh anh L, anh L hoảng sợ đứng im không nói gì rồi Y và H mở nắp bảo vệ bình ắc quy tháo 05 bình ắc quy đặt sang xe mô tô, H điều khiển xe mô tô chở Y mang theo 05 bình ắc đi đến cửa hàng T7 ở thôn T, xã L, huyện T bán cho anh Nguyễn Quốc L1, sinh năm 1977, HKTT: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội với giá 750.000 đồng, Y và H chia nhau mỗi người 300.000 đồng, đổ xăng xe mô tô của T 30.000 đồng. Sau đó, Y, H quay lại rủ T đi ăn và kể lại cho T nghe về sự việc cướp bình ắc quy tại xã T, huyện T.

Ngày 05/6/2024, anh Nguyễn Hoàng Phi L đã đến Công an xã T trình báo vụ việc.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã có yêu cầu định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 9/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 05 (năm) bình ắc quy kích thước 18x8x17cm màu xanh nhãn hiệu SATO tiger 6-DZF-30 (là bình ắc quy trong xe đạp điện Xmen) tại thời điểm định giá có giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị định giá tài sản là: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng chẵn).

Ngày 07/6/2024, Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt khẩn cấp về hành vi Cướp tài sản.

Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T nhưng không thu giữ gì.

Ngày 06/6/2024, Hoàng Tuấn Y tự nguyện giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu bạc, số imei 35863107031494; Nguyễn Thanh T tự nguyện giao nộp 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc, không đeo BKS (BKS 29M1 - 914.45 để trong cốp xe), số khung: RLHJA3927NY236984; số máy: JA39E2734009.

Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quốc L1 tại thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội thu giữ 05 (năm) bình ắc quy kích thước (18x8x17) cm màu xanh nhãn hiệu SATO Tiger 6-DZF- 30.

Ngày 03/6/2024, anh Hoàng Tuấn Đ (SN: 2001, HKTT: Lạc Thị, N, T, Hà Nội) tự nguyện giao nộp cho Công an xã N, huyện T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda wave A, màu xanh- đen- bạc, BKS: 29M1- 806.03; số khung: 3911LY229825; số máy: JA39B1567734; 01 đăng ký xe mang tên Hoàng Tuấn Đ1.

Ngày 07/6/2024, chị Lê Thị T3 (SN: 2001, HKTT: Đ, huyện C, thành phố Hà Nội) giao nộp cho Công an huyện T 01 chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining Axforce cannon, màu đen.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H và Nguyễn Thanh T phạm vào tội Cướp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54; Điều 58 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H). Đề nghị xử phạt:

  • - Hoàng Tuấn Y từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.
  • - Đỗ Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Thanh T). Đề nghị xử phạt:

  • - Nguyễn Thanh T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

*Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H là người phạm tội dưới 16 tuổi khi phạm tội; bị cáo Nguyễn Thanh T đã thành niên nhưng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc BKS 29M1-914.45 số khung: RLHJA3927NY236984; số máy: JA39E2734009. Ngày 05/6/2024, T đã cho Y và H mượn để đi cướp tài sản. Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ Nguyễn Thanh T là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên nên đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

*Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Ngày 08/8/2024, gia đình các bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng chi phí sửa, chữa chiếc xe đạp điện cho anh Nguyễn Hoàng Phi L, bồi thường cho anh Nguyễn Quốc L1, người liên quan số tiền 750.000 đồng. Anh L, L1 đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Y, H, T. Cháu Trương Đình T2 và chị Lê Thị T3 không có đề nghị gì về dân sự nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Tuấn Y và Đỗ Văn H; bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bị hại chưa thành niên có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật đã truy tố đối với các bị cáo. Người bào chữa chỉ nêu về điều kiện, hoàn cảnh gia đình các bị cáo dẫn đến các bị cáo nghỉ học sớm; các bị cáo phạm tội ở độ tuổi dưới 16 tuổi, nhận thức pháp luật và mọi mặt còn hạn chế; sau khi phạm tội đã cùng gia đình khắc phục hậu quả đã gây ra; thiệt hại xảy ra đã được thu hồi, khắc phục và hậu quả xảy ra không lớn; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo... Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho Y và H theo điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và là người dưới 16 tuổi phạm tội nên đề nghị áp đề nghị áp dụng thêm Điều 54; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự và cho các bị cáo Y và H được hưởng mức thấp dưới khung hình phạt cũng đủ để cải tại, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo Y, H đều không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Tòa cho các bị cáo được hưởng mức thấp nhất theo quy định của pháp luật để sớm trở về với gia đình và xã hội. Đại diện gia đình bị cáo Y và H tự nhận một phần lỗi và xin hứa sẽ có trách nhiệm quản lý và giáo dục tốt các bị cáo sau khi các bị cáo Y, H chấp hành xong hình phạt trở về địa phương và gia đình. Bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; quan điểm tranh luận của Luật sư và Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (Nhất là đối với người phạm tội và người bị hại dưới 16 tuổi và là những người thuộc diện trợ giúp pháp lý). Quá trình điều tra các bị cáo và người bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án đã được thẩm tra xem xét công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 03/6/2024 đến ngày 05/6/2024, Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T đã rủ nhau đi cướp tài sản. Trong đó, cuối tháng 5/2024, không xác định được người bị hại, còn lại 2 lần đi cướp tài sản, cụ thể: Ngày 03/6/2024, Hoàng Tuấn Y điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS: 29M1-806.03 chở Nguyễn Văn H4 đi đến gần cây xăng T6 địa phận xã N, huyện T, thành phố Hà Nội thấy cháu Trương Đình T2, sinh ngày 19/7/2008 đang đeo bao vợt cầu lông màu đen, bên trong có chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining Axforce cannon đang điều khiển xe đạp điện đi phía trước cùng chiều nên Y, H4 điều khiển xe mô tô vượt chặn xe anh T2, Y, H4 dừng xe đe doạ anh T2, yêu cầu anh T2 đi đến quán C3 tại xã N, huyện T, thành phố Hà Nội rồi Y có hành vi đe dọa lấy 01 chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining Axforce cannon, màu đen trị giá 505.000 đồng rồi Y, H4 mang bán được 300.000 đồng, Y chia cho H4 150.000 đồng rồi tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 05/6/2024, Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H và Nguyễn Thanh T cùng nói chuyện về việc đi cướp bình ắc quy, Hòa đồng Ý đi cùng Y còn T không đi mà cho Y mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29M1-914.45 của mình và bảo đi cướp được thì về đổ xăng xe và cho T đi ăn uống. Sau đó, H điều khiển xe mô tô Honda Wave (BKS 29M1-914.45 cất vào cốp xe) chở Y đi đến khu vực trạm bơm xã N, huyện T thấy anh Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 02/6/2008, điều khiển xe đạp điện chở anh Lê Văn T4 đi phía trước cùng chiều nên H điều khiển xe mô tô ép xe của anh L dừng lại, Y xuống xe đe dọa, ép anh T4 xuống xe để anh L chở Y đi đến khu vực cầu mới xã T, huyện T, Y, H đã có hành vi đe dọa lấy 05 bình ắc quy có trị giá 1.000.000 đồng trên xe đạp điện của anh L rồi Y, H mang bán cho anh Nguyễn Quốc L1 được 750.000 đồng, Y và H chia nhau mỗi người 300.000 đồng, đổ xăng xe mô tô của T 30.000 đồng, số tiền 120.000 đồng Y, H, T đã ăn tiêu cá nhân hết.

Bản cáo trạng số 120/CT-VKSTT ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố các bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H về tội Cướp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thanh T về tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đều có sức khỏe nhưng do có lối sống buông thả, lười lao động muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ lợi ích cá nhân nên đã bàn bạc và thực hiện hành vi Cướp tài sản như đã nêu. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần thiết phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc và áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự (tù có thời hạn) cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, phù hợp với tính chất, hành vi và độ tuổi đối với các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo để nhằm mục đích dăn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm (đồng phạm giản đơn). Bởi bị cáo Y và H (dưới 16 tuổi) cùng T, do cần tiền tiêu sài cá nhân nên rủ nhau đi cướp tài sản của người khác, không có sự tổ chức, phân công từ trước nên hành vi phạm tội của các bị cáo được xác định không có tính tổ chức. Do vậy, cần phải phân hoá hành vi phạm tội của các bị cáo thông qua vai trò, đặc điểm nhân thân để có cơ sở cá thể hoá mức hình phạt cho phù hợp theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự. Riêng Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H là người phạm tội dưới 16 tuổi nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đối với Hoàng Tuấn Y là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo H và T đi cướp tài sản và trực tiếp đe dọa những người bị hại và trực tiếp đứng ra phân chia số tiền chiếm đoạt được nên được xác định vai trò chính trong vụ án; đối với Đỗ Văn H khi được Y rủ đi cướp tài sản thì đều nhất trí và tham gia khá tích cực, trực tiếp cùng Y đe dọa người bị hại và cùng ăn chia số tiền chiếm đoạt được, do đó vai trò của H là đồng phạm thực hành và đứng thứ 2 sau Y; đối với Nguyễn Thanh T khi được Y, H rủ đi cướp tài sản thì T không đi, T không những không can ngăn Y và H mà lại đồng ý cho mượn xe máy để Y, H đi cướp tài sản và ra điều kiện cho các bị cáo khi xong việc phải đổ xăng và phải mời T đi ăn, nên vai trò của T là đồng phạm giúp sức và đứng thứ 3 trong vụ án.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xét đến quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ đe dọa người bị hại bằng lời nói, không dùng hung khí và chưa dùng vũ lực, hậu quả xảy ra gây thiệt hại không lớn; tích cực cùng gia đình khắc phục hậu quả; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo Y, H và T đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.

Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng mức thấp dưới khung hình phạt cũng phù hợp với quy định của pháp luật.

* Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt một khoản tiền để sung quỹ nhà nước) theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H (là người phạm tội dưới 16 tuổi) nên được miễn hình phạt bổ sung; bị cáo Nguyễn Thanh T đã thành niên, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

*Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra ngày 08/8/2024, gia đình các bị cáo Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng chi phí sửa, chữa chiếc xe đạp điện cho anh Nguyễn Hoàng Phi L; bồi thường cho anh Nguyễn Quốc L1 số tiền 750.000 đồng (tiền mua ắc quy xe điện). Anh L và anh L1 đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Y, H, T. Cháu Trương Đình T2 cuàng đại diện hợp pháp và chị Lê Thị T3 không có đề nghị gì về dân sự. Tại phiên tòa, các bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị cáo Y, H không ai có ý kiến gì về khoản bồi thường và mức đã bồi thường nên không đặt ra để xem xét.

*Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

  • Đối với 05 (năm) bình ắc quy kích thước (18 x 8 x 17cm) màu xanh nhãn hiệu SATO tiger 6-DZF-30. Quá trình điều tra, xác định là của anh Nguyễn Hoàng Phi L và 01 (một) chiếc vợt cầu lông nhãn hiệu Lining. Quá trình điều tra, xác định là của anh Trương Đình T2 nên ngày 28/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L và anh T2 là có căn cứ.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh đen bạc, BKS: 29M1-806.03; số khung: 3911LY229825; số máy: JA39B1567734 và đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Tuấn Đ1. Quá trình xác minh làm rõ chủ sở hữu số tài sản trên là anh Hoàng Tuấn Đ1 (SN: 1974, HKTT: xã N, huyện T, TP.) là bác ruột của Hoàng Tuấn Y. Quá trình Y điều khiển chiếc xe mô tô này của anh Đ1 để cùng H đi cướp tài sản tại xã H, huyện T, thành phố Hà Nội và xã N, huyện T, thành phố Hà Nội anh Đ1 không biết. Xe không nằm trong cơ sở giữ liệu vật chứng nên ngày 27/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và đăng ký xe cho anh Đ1 quản lý, sử dụng là có căn cứ.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc BKS 29M1-914.45 số khung: RLHJA3927NY236984; số máy: JA39E2734009. Ngày 05/6/2024, T đã cho Y và H mượn để đi cướp tài sản. Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ Nguyễn Thanh T là chủ sở hữu của chiếc xe trên. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên là tang vật của vụ án, có giá trị sử dụng nên cần tịch thu đẻ phát mại sung quỹ nhà nước.
  • Đối với hành vi anh Nguyễn Quốc L1 là người đã mua 05 bình ắc quy với giá 750.000 và chị Lê Thị T3 là người đã mua 01 chiếc vợt cầu lông do Y và H bán với giá 300.000 đồng đồng. Quá trình điều tra xác định anh L1, chị T3 không biết tài sản trên do các đối tượng phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu bạc, số imei 35863107031494 là tài sản do H, Y cướp được vào khoảng cuối tháng 5/2024 tại khu vực xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được chủ sở hữu nên đã tách vụ án và chiếc điện thoại trên, khi nào có căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.

Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Tuấn Y và Đỗ Văn H; bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và Luật sư bào chữa cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo Y và H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; người bị hại, người đại diện hợp pháp của cháu T2 và cháu L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H, Nguyễn Thanh T phạm vào tội “Cướp tài sản”.

    *Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54; Điều 58 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với Hoàng Tuấn Y, Đỗ Văn H). Xử phạt:

    • - Hoàng Tuấn Y 42 (Bốn hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.
    • - Đỗ Văn H 36 (Ba sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

    *Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Thanh T). Xử phạt:

    • - Nguyễn Thanh T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

    * Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc BKS 29M1-914.45 số khung: RLHJA3927NY236984; số máy: JA39E2734009, thu giữ của Nguyễn Thanh T.

    (Đặc điểm và hiện trạng vật chứng thực hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
    • Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Tuấn Y và Đỗ Văn H;
    • Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Y, H, T, Luật sư bào chữa và đại diện hợp pháp của bị cáo Y và H (Có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người đại diện hợp pháp của cháu T2 và cháu L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp - TP Hà Nội;
  • - VKSND H Thường Tín; VKSND TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Thường Tín;
  • - Công an huyện Thường Tín;
  • - Trại tạm giam số 2 – CATP Hà Nội;
  • - Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Duy Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - cướp tài sản

  • Số bản án: 127/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Tuấn Y cùng đồng phạm phạm tội "Cướp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger