TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024.
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Trung Kiên.
- Ông Vũ Văn Phong.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/7/2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy H, sinh năm 1997; Trú tại: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Chị H và anh D vắng mặt (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn và B tự khai, nguyên đơn là chị Trần Thị Thúy H trình bày:
Chị đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn D vào ngày 05/4/2021, có đăng ký tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau, anh D không quan tâm đến gia đình. Từ tháng 4/2023 chị phát hiện anh D quan hệ với người phụ nữ khác, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh D không thay đổi, hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, từ tháng 10/2023 cho đến nay vợ chồng chị sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, chị xin được ly hôn với anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Nhật H1, sinh ngày 15/10/2022. Hiện nay cháu H1 đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị nhận nuôi dưỡng cháu H1 và không đề nghị anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai, bị đơn là anh Phạm Văn D có ý kiến như sau: Anh kết hôn với chị Trần Thị Thúy H vào ngày 05/4/2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau. Từ tháng 10/2023 vợ chồng sống ly thân, mỗi người ở một nhà khác nhau. Anh không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với chị H và con cần đầy đủ bố mẹ. Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Phạm Nhật H1, sinh ngày 15/10/2022, hiện nay cháu H1 đang ở cùng chị H. Khi ly hôn anh nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản, công nợ: Không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Trần Thị Thúy H và anh Phạm Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Phạm Văn D. Về con chung: Giao chị Trần Thị Thúy H nuôi dưỡng con chung là Phạm Nhật H1, sinh ngày 15/10/2022. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Thúy H và anh Phạm Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị H, anh D là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung
2.1. Về tình cảm: Chị Trần Thị Thúy H đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn D vào ngày 05/4/2021 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị H chung sống bình thường một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau, anh D quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H đã trở nên căng thẳng, trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị H2 là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Ý kiến của anh D về việc anh không đồng ý ly hôn là không có căn cứ, không được chấp nhận.
2.2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Nhật H1, sinh ngày 15/10/2022, hiện nay cháu H1 đang ở cùng chị H. Hiện nay cháu H1 dưới 36 tháng tuổi, vì vậy để ổn định việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, HĐXX xét thấy cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
2.3. Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Phạm Văn D.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Nhật H1, sinh ngày 15/10/2022 (hiện nay cháu H1 đang ở cùng với chị H). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy H nộp 300.000 đồng. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004070 ngày 15/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Chị Trần Thị Thúy H và anh Phạm Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bên không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Dũng |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
