|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 127/2024/HNGĐ-ST |
|
|
Ngày: 18 - 11 - 2024 |
|
|
V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Cường.
- Bà Phạm Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST - HNGĐ ngày 20/5/2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST - DS ngày 14/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 234/2024/QĐST - HNGĐ ngày 04/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Trang N, sinh năm 1993.
- Bị đơn: anh Đào Thế A, sinh năm 1992.
Nơi thường trú: tổ D, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi tạm trú: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
Nơi thường trú: tổ D, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Trang N trình bày: chị kết hôn với anh Đào Thế A vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi vợ chồng về chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến tháng 12 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, khác biệt về tính cách, vợ chồng thường xuyên cãi vã mâu thuẫn ngày một lớn và không thể giải quyết được. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Đào Thế A.
Về con chung: trong quá trình chung sống chị và anh Đào Thế A không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: chị và anh Đào Thế A không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bị đơn anh Đào Thế A đến Tòa án để giải quyết nhưng bị đơn không đến Tòa án để trình bày quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của chị N và anh Thế A, thể hiện: anh Đào Thế A đang cư trú tại tổ D, khu Q, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, không có nơi cư trú khác. Vợ chồng chị N và anh Thế A hay bất đồng quan điểm, cuộc sống không có tiếng nói chung. Nay chị N xin ly hôn anh Thế A, đại diện tổ dân, khu phố đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71; Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Trang N.
Đề nghị HĐXX cho chị N được ly hôn anh Đào Thế A.
Về các vấn đề khác: con chung: không có; tài sản chung, nợ chung: không đề nghị giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Trang N yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Đào Thế A, bị đơn anh Đào Thế A có nơi cư trú tại địa bàn thành phố H nên Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật ly hôn theo quy định tại các Điều 28, 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đào Thế A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Trang N và anh Đào Thế A là vợ chồng hợp pháp. Anh chị đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2019. Sau khi về chung sống cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn, trong cuộc sống hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không hợp nhau về tư tưởng và lối sống, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, anh Đào Thế A đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến tòa án trình bày quan điểm của mình về việc chị N đề nghị ly hôn. Điều này thể hiện anh Thế A không có trách nhiệm trong việc xây dựng, vun đắp tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh Thế A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được trên cơ sở đó căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh Đào Thế A.
[3] Về con chung: chị N và anh Đào Thế A không có con chung.
[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: chị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo bản án: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Trang N.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Trang N được ly hôn anh Đào Thế Anh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Trang N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Tiền án phí được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000805, ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Trang N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trọng Hiệp |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, con chung
