|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 127/2021/HNGĐ-ST Ngày 07- 7 - 2021 “V/v xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thanh Liêm
- Ông Võ Sĩ Hùng
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh – Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.
Trong ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 192/2021/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 4 năm 2021 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 426/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 (có mặt).
- Cư trú tại: Ấp D, xã L, thành phố M, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Anh Hồ Vũ P, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Cư trú tại: Ấp D, xã L, thành phố M, tỉnh Cà Mau
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh Ngân hàng C; Địa chỉ: Số 34, đường B, phường 2, thành phố M, tỉnh Cà Mau. (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Chị Nguyễn Thị L trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Vũ P chung sống với nhau vào năm 2001, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống vợ chồng khoảng 03 năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh P thường xuyên nhậu nhẹt không quan tâm chăm sóc gia đình, nên thường xuyên cự cãi. Từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị và anh P đã ly thân khoảng 01 năm nay. Hiện chị không còn tình cảm gì với anh P nên yêu cầu xin ly hôn với anh P.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh P có 03 con chung tên Hồ Bích T, sinh năm 2001; Hồ Văn C, sinh ngày 16/4/2005; Hồ Văn H, sinh ngày 01/9/2011. Khi ly hôn đối với Hồ Bích T đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không đặt ra yêu cầu về nuôi dưỡng. Đối với Hồ Văn C và Hồ Văn H chị yêu cầu nuôi 02 con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị xác định chị và anh P không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai vợ chồng có nợ Chi nhánh Ngân hàng C số tiền nợ gốc 29.000.000 đồng và nợ lãi. Chị xác định khi ly hôn chị nhận trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng, không yêu cầu trách nhiệm trả nợ của anh P.
Đối với anh Hồ Vũ P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.
- Ngân hàng C có văn bản trình bày ngày 27/4/2021 như sau:
Đến ngày 25/4/2021, hộ gia đình chị Nguyễn Thị L có vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng c do chị Nguyễn Thị L là người đại diện đứng tên trên hồ sơ vay vốn với tổng số nợ là 30.591.948 đồng. Trong đó nợ gốc 29.000.000 đồng, nợ lãi đến ngày 25/4/2021 là 1.591.948 đồng. Căn cứ vào hồ sơ vay vốn món vay của hộ gia đình đang còn trong hạn. Nên Ngân hàng chấp thuận cho chị Nguyễn Thị L được đại diện cho hộ gia đình tiếp tục duy trì Hợp đồng vay vốn đối với các món vay chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường và chương trình Hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 33/QĐ-TTg. Chị Nguyễn Thị L phải đứng ra nhận trách nhiệm trả nợ và thực hiện trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo quy định. Đồng thời Ngân hàng xin vắng mặt không tham gia hòa giải, xét xử cho đến khi kết thúc vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nội dung tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Vũ P được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Hồ Vũ P có nơi cư trú tại xã L, thành phố Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Hồ Vũ P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử theo quy định nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do. Ngân hàng C có ý kiến xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P và Ngân hàng C theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Vũ P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001 nhưng không đăng ký kết theo quy định của pháp luật. Hiện chị Liễu xin ly hôn, anh P vắng mặt và cũng không có ý kiến gửi Tòa án. Do việc chung sống của anh chị là thuộc trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Nên quan hệ hôn nhân của anh chị không thỏa mãn về mặt hình thức. Đồng thời, Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa anh chị thực tế đã trầm trọng anh chị đã ly thân 01 năm nay. Nếu tiếp tục cuộc sống chung cũng không hạnh phúc. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn với anh P. Nên nay Tòa án giải quyết không công nhận chị Liễu và anh P là vợ chồng, được quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Vũ P có 03 con chung là Hồ Bích T, sinh năm 2001; Hồ Văn C, sinh ngày 16/4/2005; Hồ Văn H, sinh ngày 01/9/2011. Khi ly hôn đối với Hồ Bích T đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không đặt ra yêu cầu nuôi dưỡng. Đối với Hồ Văn C và Hồ Văn H chị L yêu cầu nuôi 02 con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại biên bản ghi ý kiến vào ngày 16/6/2021, nguyện vọng của cháu C và cháu H muốn sống cùng mẹ là chị Nguyễn Thị L, và anh P không gửi ý kiến gì về việc nuôi con. Cho nên tiếp tục giao cháu Hồ Văn C và Hồ Văn H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với Hồ Bích T đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L xác định không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Hồ Vũ P vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị L khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị L khai có nợ Ngân hàng C số tiền là 30.591.948 đồng. Trong đó nợ gốc 29.000.000 đồng, nợ lãi đến ngày 25/4/2021 là 1.591.948 đồng. Khi ly hôn chị L nhận trách nhiệm trả số nợ này không đề cập trách nhiệm trả nợ của anh P. Đối với số nợ này hiện Ngân hàng C cũng thống nhất chấp thuận cho chị Nguyễn Thị L được đại diện cho hộ gia đình tiếp tục duy trì Hợp đồng vay vốn. Chị Nguyễn Thị L phải đứng ra nhận trách nhiệm trả nợ và thực hiện trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo quy định. Xét thấy, hiện chi nhánh Ngân hàng C không yêu cầu khởi kiện chị Liễu trả số nợ trên trong cùng vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, giữa Ngân hàng và chị L có tranh chấp thì Ngân hàng có quyền khởi kiện ở vụ án dân sự khác.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị L phải chịu theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Vũ P là vợ chồng.
Về con chung: Giao Hồ Văn C, sinh ngày 16/4/2005 và Hồ Văn H, sinh ngày 01/9/2011 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hồ Bích T đã trưởng thành không xem xét về nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
Anh Hồ Vũ P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị L khai không có, không xem xét.
Về nợ chung: Không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị L phải chịu. Chị Liễu đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0000928 ngày 19/4/2021, được đối trừ, chị L đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Nguyễn Thị L, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hồ Vũ P, Ngân hàng C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Phạm Kim Cương |
Bản án số 127/2021/HNGĐ-ST ngày 07/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 127/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Yến L xin ly hôn Trương Hồng T
