Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 127/2021/DSPT

Ngày 21-9-2021

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Văn Công Dần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 24 tháng 8 năm 2021 và ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 127/2021/TLPT- DS ngày 14 tháng 7 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2021/DS - ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 122/2021/QĐ - PT ngày 09/8/2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lại Thị Ánh D; địa chỉ: Đường Y, tổ dân phố X, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T (Bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho ông Trần Văn M tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 30/7/2020); địa chỉ: Đường MK, tổ dân phố Z, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH thương mại A; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn M – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên; (có mặt).
  4. Người kháng cáo: Ông Trần Văn M (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 7 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lại Thị Ánh D trình bày:

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2019 bà Lại Thị Ánh D và vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T thường xuyên mua bán cà phê với nhau với hình thức bà D mua cà phê của vợ chồng ông M, bà T sau đó gửi lại cho ông M và bà T giữ, lúc nào cần bán hai bên chốt giá cà phê tại thời điểm để bán lại cho vợ chồng ông M. Trong khoảng thời gian này bà Lại Thị Ánh D đã gửi cho vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T ba lần tổng cộng 9.500 kg cà phê nhân xô, cụ thể: Ngày 26/01/2018 gửi 1.000kg cà phê nhân xô; ngày 03/05/2018 gửi 3.000kg cà phê nhân xô và ngày 16/01/2019 gửi 5.500kg cà phê nhân xô.

Đến ngày 09 tháng 6 năm 2020 bà D đã thỏa thuận bán cho vợ chồng ông M, bà T với giá 31.000 đồng /1 kg cà phê nhân xô, thành tiền là 294.500.000 đồng (Hai trăm chín mươi tư triệu, năm trăm nghìn đồng), ngày 25/06/2020 vợ chồng ông M trả được 64.790.000 đồng (Sáu mươi tư triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng), số tiền còn lại là 229.710.000 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm mười nghìn đồng) vợ chồng ông M hẹn sau 1 tuần sẽ thanh toán, tuy nhiên đến hẹn trả tiền nhưng vợ chồng ông M, bà T vẫn không trả cho bà D. Khi giao dịch mua bán toàn bộ số lượng cà phê nói trên hai bên thỏa thuận ký kết với tư cách cá nhân do bà và cá nhân vợ chồng ông M đứng ra giao dịch, không liên quan đến Công ty A, không có con dấu của công ty trong các chứng từ mua bán.

Vì vậy, bà D đã làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án tuyên buộc vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho bà số tiền mua cà phê còn thiếu là 229.710.000 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm mười nghìn đồng), bà D không yêu cầu lãi suất.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Lại Thị Ánh D đã làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 24.180.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền còn lại đối với phiếu gửi cà phê do ông Trần Văn M nhận của anh Phạm Trung S vào ngày 26/01/2018 và Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện đó. Hiện nay, bà D yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết buộc ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả số tiền còn nợ là 205.530.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.

Tại bản tự khai lập ngày 27/7/2020, bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T trình bày:

Vợ chồng ông bà thành lập Công ty TNHH thương mại A; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị Trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để kinh doanh cà phê, nông sản. Qua thời gian mua bán đến nay, Công ty A còn nợ lại bà Lại Thị Ánh D 229.710.000 đồng tiền mua cà phê còn thiếu. Tuy nhiên, hiện nay do Công ty làm ăn thua lỗ, đã bán hết tài sản trả nợ cho người dân nên chưa trả được cho bà D.

Trong quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Văn M đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị T và là đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại A đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia đối chất, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông M đều vắng mặt. Tòa án đã ban hành và tống đạt quyết định để yêu cầu ông M là đại diện theo pháp luật của Công ty A cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh trách nhiệm của Công ty A nhưng đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Trần Văn M thừa nhận việc gửi cà phê, nội dung, số lượng cà phê hai bên mua bán và số tiền như bà D đã khởi kiện là đúng. Tuy nhiên, ông M cho rằng chữ ký dưới mục người nhận tại các phiếu gửi cà phê ngày 26/01/2018, ngày 03/05/2018 và ngày 16/01/2019 do bà D xuất trình do ông đã trực tiếp ký sẵn, sau đó giao cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nhận cà phê của bà D. Việc ông ký nhận vào phiếu gửi cà phê và bà T là người trực tiếp nhận số cà phê nói trên của bà D với tư cách là đại diện cho Công ty A. Vì vậy, Công ty A mới là người có nghĩa vụ trả nợ cho bà D, vợ chồng ông không có trách nhiệm trả nợ cho bà D.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2021/DS - ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 /2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 429, Điều 430, Điều 434 và khoản 1, khoản 2 Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lại Thị Ánh D. Buộc vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lại Thị Ánh D số tiền 205.530.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng). Nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi chậm trả nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn M (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T), Hội đồng xét xử nhận định rằng trách nhiệm thanh toán số tiền 205.530.000 đồng cho bà Lại Thị Ánh D là thuộc về Công ty TNHH thương mại A. Việc bản án cấp sơ thẩm xác định vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán cho bà Lại Thị Ánh D số tiền 205.530.000 đồng là đánh giá chứng cứ chưa chính xác, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn M, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2021/DS – ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị Ánh D về việc buộc Công ty TNHH thương mại A có trách nhiệm trả cho bà Lại Thị Ánh D số tiền 205.530.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết 326 /2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2021/DS – ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị Ánh D về việc buộc Công ty TNHH thương mại A có trách nhiệm trả cho bà Lại Thị Ánh D số tiền 205.530.000 đồng.

[2]. Về án phí: Công ty TNHH thương mại A phải chịu 10.276.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lại Thị Ánh D số tiền 5.137.500 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện Krông Pắc;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Đăng Cổng TTĐT TANDTC;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2021/DSPT ngày 21/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 127/2021/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2019 bà Lại Thị Ánh D và vợ chồng ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị T thường xuyên mua bán cà phê với nhau với hình thức bà D mua cà phê của vợ chồng ông M, bà T sau đó gửi lại cho ông M và bà T giữ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger