Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1269/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 27-12-2023

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2023/HNST ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1269/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1360/2023/QÐST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Thị Thanh T năm 1979; Địa chỉ: A, 262/15-17 L, phường H, quận T, TP .(Có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Thanh M năm 1974; Địa chỉ: A, 262/15-17 L, phường H, quận T, TP .(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T1 bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T2 ông M1 nguyện chung sống với nhau có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23 do UBND xã N, (nay là phường N, Thị xã C), Tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/03/2012.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng tới năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế. Ông M2 có trách nhiệm với gia đình, không chí thú làm ăn để lo cho vợ con. Từ năm 2021 đến nay nhiều lần bà đã khuyên nhủ và động viên ông M3 kiếm việc làm nhưng ông M4 không thực hiện. Ngoài ra ông M5 hay nhậu với bạn bè về kiếm chuyện tranh cãi. Khoảng tháng 10/2023 ông M6 đi kiếm việc làm, tuy nhiên ông làm công việc gì bà không biết và tiền lương cũng không đưa cho bà. Thời gian chung sống với ông M bà đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, mệt mỏi và bị ảnh hưởng đến tinh thần rất nghiêm trọng. Do mâu thuẫn nên hai bên đã ly thân từ năm 2021. Nay nhận thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn, đời sống bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh M8

- Về quan hệ con chung: Bà và ông M9 02 (hai) con chung là Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông Mcấp d nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án – bị đơn ông Trần Thanh M8 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà T tự nguyện chung sống có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số hôn số 23 do UBND xã N, (nay là phường N, Thị xã C), Tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/03/2012. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, hai bên chỉ có những mâu thuẫn nhỏ không đáng kể. Lý do mâu thuẫn chủ yếu là vấn đề về kinh tế, từ năm 2019 ông bị xuất huyết não từ đó sức khỏe giảm sút không làm ra kinh tế nên ở nhà tới nay. Nay với yêu cầu ly hôn của bà T4 ông không đồng ý vì ông còn thương vợ con.

- Về quan hệ con chung: Ông và bà T5 sống có 02 con chung là Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014. Khi ly hôn bà T6 cầu nuôi con thì ông không đồng ý. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà Tcấp d1 nuôi con. Hiện nay ông không có công việc nhưng sẽ về quê bán tài sản để lo cho con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Trần Thanh M10 được Toà án triệu tập hợp lệ và có đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng hòa giải không thành. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28; Điều 48; Điều 69; Điều 79; Điều 171; Điều 173 ; Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn năm 2012 thì quan hệ hôn nhân giữa bà T2 ông M11 quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà T chung sống với ông M12 sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế. Mặt khác ông M2 chí thú làm ăn để lo cho vợ con. Về quan hệ hôn nhân : Bà T6 cầu được nuôi 02 con chung Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014. Ông M13 có yêu cầu được nuôi 02 con chung, tuy nhiên 02 con chung có nguyện vọng được ở với bà T Từ những cơ sở trên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 57 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về tài sản chung và nợ chung: bà T2 ông M2 yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí: Tính theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 23 do Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N, Thị xã C), Tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/03/2012 cho bà Huỳnh Thị Thanh T7 ông Trần Thanh M14 quan hệ hôn nhân giữa bà T7 ông M là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông M15 cư ngụ tại quận T bà T yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục vắng mặt đương sự:

Bị đơn – ông Trần Thanh M8 đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Trần Thanh M8 vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét, việc bà Huỳnh Thị Thanh T8 yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh M8:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T ông M16 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, bà T9 rằng ông M2 chí thú làm ăn, không kiếm công việc để đi làm lo cho vợ con. Mặc khác quá trình giải quyết vụ án ông M13 xác nhận từ sau khi ông bị xuất huyết não vào năm 2019 nên sức khỏe yếu chưa kiếm công việc làm nên không có tiền lo cho vợ con. Ông M2 đồng ý ly hôn nhưng không đến phiên Tòa, điều đó cho thấy ông M2 có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Do đó hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho ông M17 lại, bà T10 giữ yêu cầu ly hôn và xác nhận hiện nay cuộc sống chung rất căng thẳng, ngột ngạt. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng vợ chồng giữa bà T7 ông M là có thật, khả năng hàn gắn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T11

- Về quan hệ con chung: Xét việc bà T yêu cầu được nuôi 02 (hai) con chung tên Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014. Quá trình giải quyết vụ án ông M2 đồng ý và cũng có yêu cầu được nuôi 02 (hai) con chung:

Xét, việc giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Hiện nay 02 cháu Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014 đang chung sống với bà T12 M các cháu được đi học và phát triển bình thường. Quá trình hòa giải ông M13 có yêu cầu được nuôi 02 con chung, Tòa án cũng đã tống đạt Quyết định cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện thu nhập, khả năng nuôi con cho bà T7 ông M18 nhiên ông M2 cung cấp các chứng cứ thể hiện về điều kiện kinh tế và khả năng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ngược lại bà T13 minh được khả năng kinh tế và điều kiện nuôi con chung, ngoài ra nguyện vọng của các cháu cũng muốn chung sống với bà T Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà T yêu cầu được nuôi 02 (hai) con chung là có cở sở và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi, nên Hội đồng xét xử xét thấy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông M do bà T14 yêu cầu.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án ông M13 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không xem xét giải quyết. Nếu sau này hai bên có tranh chấp thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.

[3] Về án phí:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 267; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T15
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thanh T16 ly hôn với ông Trần Thanh M8

    Giấy chứng nhận kết hôn số 23 do Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N, Thị xã C), Tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/03/2012 cho bà T7 ông M2 còn giá trị pháp luật kể từ ngày Bản án của tòa án có hiệu lực.

    • - Về quan hệ con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Trần Ngọc N Q sinh ngày 07/8/2012 và Trần Thanh H ngày 21/5/2014 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông M do bà T14 có yêu cầu.
    • + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.
    • + Ông M19 quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
    • + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
    • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T14 yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án ông M13 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không xem xét giải quyết. Nếu sau này hai bên có tranh chấp thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.
  2. Về án phí:
  3. Huỳnh Thị Thanh T8 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014185 ngày 05/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM
  • - VKSND Quận Tân Phú;
  • - UBND phường Nhị Bình,
  • TX Cai Lậy, Tỉnh Tiền Giang;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ ./.(Vinh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1269/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1269/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger