TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1268/2023/DS-PT.
Ngày: 27/12/2023.
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân.
Các Thẩm phán:
- Ông Phan Nguyên Nguyên;
- Bà Phan Thị Út;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Hoa Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 602/2023/DSPT ngày 21/11/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 145/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè bị kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5613/2023/QĐ-PT ngày 29/11/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 17003/2023/QĐ-PT ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: A ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: H B, tổ D, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số công chứng 001312, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/5/2020 tại Văn phòng C1) (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Vũ Quốc T1 là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1940, chết ngày 05/02/2023.
Địa chỉ: A ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn L:
- Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: A ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: 100HG ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: A ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: E ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: A ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Tấn P (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ C ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: H B, tổ D, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
Địa chỉ: F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Văn phòng Đ - Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H.
Địa chỉ: A P, Phường G, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H và Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Đ: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1978.
Địa chỉ liên hệ: B4 Chung cư H, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 5927/UQ-STNMT-CPĐK ngày 25/7/2022 của Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H và giấy ủy quyền số 6444/GUQ-VPĐK-HC ngày 19/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Đ) (vắng mặt).
Người kháng nghị: Ngày 06/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị số: 6734/QĐ-VKS-DS yêu cầu Tòa án sửa bản án sơ thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lê Ngọc T có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Thu H trình bày:
Ông T và bà H có nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn P1 và bà Trần Tử L2 Kim phần đất có diện tích 131,4m², bao gồm 92,7m² đất (ONT) và 38,7m² (CLN) thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 31, xã P, huyện N. Việc chuyển nhượng đất đã được công chứng và đăng bộ. Ngày 19/3/2018, văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Đ, chi nhánh huyện N đã cập nhật vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 0088528 qua tên vợ chồng nguyên đơn.
Trên phần đất vợ chồng nguyên đơn nhận chuyển nhượng có một lối đi riêng, đi ra hẻm B đường B, xã P, đã được công nhận quyền sử dụng riêng cho nguyên đơn, nhưng trước đây vợ chồng nguyên đơn có cho gia đình ông L đi nhờ. Sau khi xin được giấy phép xây dựng, nguyên đơn bắt đầu xây dựng nhà ở trên phần đất nêu trên thì tháng 4/2019, ông L đã tự ý làm hàng rào bít lối đi thuộc quyền sử dụng riêng của vợ chồng nguyên đơn, làm cho vợ chồng nguyên đơn không thể vào phần đất nêu trên để xây dựng nhà.
Ông L cho rằng đây là lối đi thuộc quyền sử dụng của gia đình ông L, nhưng không có chứng cứ để chứng minh. Ông L yêu cầu nguyên đơn phải trả cho ông số tiền là 120.000.000đồng thì ông L mới cho nguyên đơn sử dụng lối đi.
Ngày 04/11/2019, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án Nhân dân huyện Nhà Bè giải quyết các vấn đề sau:
Xác nhận phần đất có diện tích 37,3m² tại vị trí số (8) là 17,4m² và vị trí số (11) là 19,9m² theo bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 14/10/2021 của Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H thửa 41, tờ bản đồ số 31, ấp C, xã P, huyện N, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật chủ sử dụng mới là vợ chồng nguyên đơn vào ngày 19/3/2018 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng nguyên đơn và buộc ông L có nghĩa vụ trả lại phần đất đã lấn chiếm nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L có yêu cầu phản tố ngày 29/9/2020 đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật chủ sử dụng mới là ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn vắng mặt, không có lời trình bày tại phiên tòa. Riêng ông Nguyễn Anh T2 có ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2023 như sau: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông T2 không đồng ý vì không lấn chiếm đất của ai, trước đây cha của ông T2 là ông L bán cho chủ trước phần đất này ngang trước 6m x dài 17m, ngang sau 5,85m, về lối đi thì bán cho chủ trước làm lối đi công cộng ngang 1m x dài 20,95m. Tại phiên hòa giải ông T2 không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn nữa, đề nghị nguyên đơn trả cho phía bị đơn số tiền 100.000.000đồng để giao trả cho nguyên đơn toàn bộ đất tranh chấp, kể cả phần đất nguyên đơn đã cất nhà nằm ngoài giấy chứng nhận nguyên đơn được cấp. Tuy nhiên, nguyên đơn phải dành lối đi chung ra đường bê tông, tính từ mái hiên nhà ông T2 vị trí cột điện chạy dài ra khoảng gần 8m, chiều ngang khoảng 1,4m.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Thu H trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn.
Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H và Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Đ do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai ngày 05/6/2023 giữ nguyên ý kiến theo Văn bản số 2357/CNNB-ĐK ngày 21/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N cụ thể: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N căn cứ vào quy định pháp luật đất đai giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền đúng quy định, đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS 02045 do Sở T4 cấp ngày 02/12/2016 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
Rút yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 320.000.000đồng do hành vi cản trở nguyên đơn sử dụng đất; đề nghị công nhận phần đất vị trí số (8) diện tích 17,4m² thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L có nghĩa vụ giao trả lại đất và tự nguyện sử dụng phần đất tại vị trí số (11) là 19,9m² làm lối đi chung.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 145/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T.
Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn L gồm các đương sự: Ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Anh T2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim L1, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Tấn P phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H phần đất lấn chiếm ký hiệu số (8) diện tích là: 17,4m² theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số hợp đồng 8457/TTĐĐBĐ-VPQ7 (CS1) ngày 14/10/2021 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H, thửa 41 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật sang tên ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018.
Buộc ông Nguyễn Anh T2 có nghĩa vụ tháo dỡ chuồng gà và vật kiến trúc có trên đất tại vị trí ký hiệu số (8) để giao trả lại đất cho ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H.
Ổn định cho gia đình ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất ký hiệu số (8) là 17,4m², thửa 41 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật sang tên ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018 (Đính kèm Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số hợp đồng 8457/TTĐĐBĐ VPQ7 (CS1) ngày 14/10/2021 của Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn tự nguyện sử dụng phần đất tại vị trí số (11) diện tích là 19,9m² (lối đi) để làm lối đi chung cho cả hai bên gia đình đương sự, không ai được thực hiện hành vi ngăn cản, hoặc làm hạn chế lối đi chung này. Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chuyển môn có thẩm quyền để được hướng dẫn thực hiện thủ tục thi hành án và chỉnh lý theo quy định của pháp luật.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 320.000.000 đồng do hành vi cản trở sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 06/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số: 6734/QĐ-VKS-DS yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng Tòa án cấp sơ thẩm phải đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do UBND huyện N cấp ngày 02/12/2016 cập nhật cho nguyên đơn ông T và bà H ngày 19/3/2018.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định kháng nghị và nhận định, đề nghị:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 308, 309 - Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng bổ sung vào phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, bổ sung điều luật áp dụng trong trường hợp có đương sự vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị số: 6734/QĐ-VKS-DS ngày 06/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm; nguyên đơn, luật sư bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Do ông Nguyễn Văn L đã chết ngày 05/02/2023, căn cứ vào Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đưa các hàng thừa kế thứ nhất của ông L vào tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bao gồm các đương sự sau: Ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Anh T2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim L1, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Tấn P là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận phần đất có tổng diện tích 37,3m²; trong đó, tại vị trí số (8) là 17,4m² và vị trí số (11) là 19,9m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 31, ấp C, xã P, huyện N, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật chủ sử dụng mới là vợ chồng nguyên đơn vào ngày 19/3/2018, theo bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 14/10/2021 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng nguyên đơn và yêu cầu Tòa án buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L trả lại phần đất có diện tích 37,3m² mà ông L đang lấn chiếm cho vợ chồng nguyên đơn.
[2.2] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông T, bà H nhận chuyển nhượng của ông P và bà Kim p diện tích 131,4m², bao gồm 92,7m² đất ở nông thôn và 38,7m² đất cây lâu năm thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 31, xã P và được chỉnh lý sang tên cho nguyên đơn ngày 19/3/2018. Tháng 4/2019, ông L đã tự ý làm hàng rào bít lối đi thuộc quyền sử dụng riêng của vợ chồng nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp. Căn cứ bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 14/10/2021 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H xác định được phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 37,3m² được ký hiệu số (8) là 17,4m² và vị trí số (11) là 19,9m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 31, ấp C, xã P, huyện N.
Qua đối chiếu giữa bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 14/10/2021 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528; đã cập nhật chủ sử dụng mới là ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018 thể hiện như sau: Phần đất tranh chấp được ký hiệu số (8) là 17,4m² và vị trí số (11) là 19,9m² nằm hoàn toàn trong thửa 41, tờ bản đồ số 31 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật chủ sử dụng mới là ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 37,3m², ký hiệu số (8) là 17,4m² và vị trí số (11) là 19,9m², thuộc thửa 41 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H.
[2.3] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn đã rút lại phần yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường số tiền 320.000.000đồng do hành vi cản trở nguyên đơn sử dụng đất và nguyên đơn tự nguyện sử dụng phần đất tranh chấp tại vị trí số (11) là 19,9m² để làm lối đi chung cho cả hai bên. Xét đây là tự nguyện của nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ yêu cầu đòi bồi thường của nguyên đơn là có căn cứ. Do những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đang chiếm dụng phần đất tranh chấp ký hiệu số (8) là 17,4m² theo bản đồ hiện trạng ngày 14/10/2021. Bản án sơ thẩm đã giải quyết buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn L phải có nghĩa vụ trả lại cho ông T, bà H phần đất lấn chiếm ký hiệu số (8) diện tích là: 17,4m² theo bản đồ hiện trạng ngày 14/10/2021; buộc ông Nguyễn Anh T2 có nghĩa vụ tháo dỡ chuồng gà và vật kiến trúc có trên đất tại vị trí ký hiệu số (8) diện tích là: 17,4m² nêu trên để giao trả lại đất cho ông T, bà H; đồng thời, ổn định cho gia đình ông T, bà H được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất ký hiệu số (8) là 17,4m² tranh chấp và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn tự nguyện sử dụng phần đất tại vị trí số (11) diện tích là 19,9m² (lối đi) để làm lối đi chung cho cả hai bên gia đình đương sự, không ai được thực hiện hành vi ngăn cản, hoặc làm hạn chế lối đi chung này và đình chỉ yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 320.000.000 đồng do hành vi cản trở sử dụng đất.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đối với quyết định nêu trên của bản án nên đã có hiệu lực pháp luật; do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét là có căn cứ.
[2.4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát thì: Ngày 29/9/2020, bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật cho ông T, bà H ngày 19/3/2018.
Sau khi ông L chết, ông T2 có ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 29/3/2023 là xin rút yêu cầu phản tố về việc xin hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cập nhật sang tên vợ chồng ông T, bà H ngày 19/3/2018; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng còn lại của ông L từ chối tham gia tố tụng nên được xem như từ bỏ yêu cầu phản tố; do đó, cần đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần chấp nhận toàn bộ kháng nghị để sủa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên là có căn cứ.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc bản vẽ, thẩm định, định giá tài sản nguyên đơn tự nguyện chịu đã nộp xong và quyết toán xong tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định, nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị số: 6734/QĐ-VKS-DS Ngày 06/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 145/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T.
- Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn L gồm các đương sự: Ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Anh T2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim L1, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Tấn P phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H phần đất lấn chiếm ký hiệu số (8) diện tích là: 17,4m² theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số hợp đồng 8457/TTĐĐBĐ VPQ7 (CS1) ngày 14/10/2021 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, thửa 41 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật sang tên ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018.
- Buộc ông Nguyễn Anh T2 có nghĩa vụ tháo dỡ chuồng gà và vật kiến trúc có trên đất tại vị trí ký hiệu số (8) để giao trả lại đất cho ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H.
- Giao cho ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất ký hiệu số (8) là 17,4m², thửa 41 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật sang tên ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018 (Đính kèm Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số hợp đồng 8457/TTĐĐBĐ VPQ7 (CS1) ngày 14/10/2021 của trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn tự nguyện sử dụng phần đất tại vị trí số (11) diện tích là 19,9m² theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh ngày 14/10/2021 của trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để làm lối đi chung cho cả hai bên gia đình đương sự, không ai được thực hiện hành vi ngăn cản, hoặc làm hạn chế lối đi chung này.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng) do hành vi cản trở sử dụng đất.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CE 088528 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 02/12/2016, đã cập nhật sang tên ông Lê Ngọc T và bà Phạm Thị Thu H ngày 19/3/2018.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Anh T2, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim L1, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Tấn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm.
- Về chi phí thẩm định, đo đạc bản vẽ và định giá: Nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp xong.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để được hướng dẫn thực hiện thủ tục thi hành án và chỉnh lý việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho ông Lê Ngọc T số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0034709 ngày 13/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Hữu Nhân |
Bản án số 1268/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1268/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DSPT
