Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1267/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2023

V/v: Tranh chấp xác định cha mẹ cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàng
  2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 882/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xác định cha mẹ cho con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1370/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Ngọc Tường V, sinh năm 2002

Địa chỉ: G đường S, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn:

1/ Bà Lương Thị Q, sinh năm: 1979

Địa chỉ: G đường S, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

2/ Ông Phạm Hồng P, sinh năm: 1973

Địa chỉ: 2 B, phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Lê Văn N, sinh năm 1971

Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang

2/ Bà Lương Thị Ngọc M, sinh năm: 1976

Địa chỉ: F ấp L, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Dương Thị Diệu T.- Luật sư thuộc Công ty L- Đoàn luật sư T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lương Ngọc Tường V trình bày:

Bà V có giấy khai sinh với tên cha là Lê Văn N và tên mẹ là Lương Thị Ngọc M nhưng thực tế bà là con đẻ của bà Lương Thị Q và ông Phạm Hồng P. Sự việc là do trước đây ông P và bà Q có đăng ký kết hôn vào ngày 18/5/2001 tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 03/11/2004, ông P đi đăng ký khai sinh cho con chung với bà Lương Thị Q tại Ủy ban nhân dân Phường E (hiện nay là Phường B), Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với tên là Phạm Tường V1, sinh ngày 26/12/2001 theo Giấy khai sinh số 179, quyển số 01/2004. Năm 2007, bà Q và ông P sống ly thân nên bà Q đã nhờ bà Lương Thị Ngọc M (là chị ruột) và chồng của bà M là ông Lê Văn N đứng ra khai sinh lại cho con với tên Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang để bổ túc giấy tờ cho bà đi học. Vì vậy bà đề nghị Tòa án công nhận bà Lương Thị Q và ông Phạm Hồng P là mẹ đẻ và cha đẻ của bà để bà được làm khai sinh lại.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Hồng P và bà Lương Thị Q cùng trình bày:

Ông P và bà Q là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ hôn nhân ông P và bà Q có một con chung là Lương Ngọc Tường V. Ngày 03/11/2004, ông bà đã đi đăng ký khai sinh cho con chung tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với tên Phạm Tường V1, sinh ngày 26/12/2001 theo Giấy khai sinh số 179, quyển số 01/2004.

Đến năm 2007, ông P và bà Q sống ly thân với nhau nhưng do ông P giữ Giấy khai sinh của Tường V1 mà Tường V1 lại đến tuổi đi học nên bà Q đã nhờ bà Lương Thị Ngọc M và ông Lê Văn N đứng ra khai sinh lại cho Tường V1 với tên Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang để bổ túc giấy tờ cho Tường V đi học.

Nay ông P và bà Q xác nhận giữa ông bà có 01 con chung là Lương Ngọc Tường V và đề nghị Tòa án căn cứ vào Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống của Bệnh viện truyền máu huyết học Thành phố H để công nhận ông P và bà Q là cha mẹ của Lương Ngọc Tường V.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M cùng trình bày:

Ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M là người đứng tên cha mẹ đẻ của Lương Ngọc T1 Vy trên Giấy khai sinh số 141/HT, quyển số 01/2007 cấp ngày 20/6/2007. Tuy nhiên ông N và bà M không phải cha mẹ ruột của Lương Ngọc Tường V mà chỉ đứng tên trên Giấy khai sinh để tạo điều kiện thuận lợi cho Tường V đủ thủ tục để được đi học theo quy định pháp luật. Nay ông N và bà M đề nghị Tòa án công nhận đúng cha mẹ ruột cho Lương Ngọc Tường V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

+ Về việc tuân theo pháp luật : Tòa án thực hiện đúng quy định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát được quy định tại Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28; Điều 48; Điều 69; Điều 79; Điều 171; Điều 173; Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

+ Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Lương Ngọc Tường V khởi kiện bà Lương Thị Q và ông Phạm Hồng P để yêu cầu xác định bà Q và ông P là cha mẹ đẻ của Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002. Đây là tranh chấp Hôn nhân gia đình về việc: “Xác định cha mẹ cho con” được quy định tại Điều 88 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014. Bà Lương Thị Q hiện đang cư ngụ tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận bà Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002 là con đẻ của ông Phạm Hồng P và bà Lương Thị Q chứ không phải con đẻ của ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M. Bị đơn ông Phạm Hồng P và bà Lương Thị Q cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông Lê Văn N và bà Lương Thị Ngọc M trình bày đề nghị giám định DNA huyết thống và giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà V trình bày: Trước đây ông P và bà Q có đăng ký kết hôn vào ngày 18/5/2001 tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 03/11/2004, ông P đi đăng ký khai sinh cho con chung với bà Lương Thị Q tại Ủy ban nhân dân Phường E (hiện nay là Phường B), Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với tên là Phạm Tường V1, sinh ngày 26/12/2001 theo Giấy khai sinh số 179, quyển số 01/2004. Năm 2007, bà Q và ông P sống ly thân nên bà Q đã nhờ bà Lương Thị Ngọc M (là chị ruột) và chồng của bà M là ông Lê Văn N đứng ra khai sinh lại cho con với tên Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang để bổ túc giấy tờ cho bà đi học.

Căn cứ Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống số 8767-DTHPT-DNA HT ngày 16/11/2023 của Bệnh viện truyền máu huyết học thuộc sở y tế Thành phố H thể hiện: ‘Hệ số kết hợp liên hệ cha con = 5974553496,4569; Xác xuất liên hệ cha con = 99,9999% ; Hệ số kết hợp liên hệ mẹ con = 12231790546,8321; Xác xuất liên hệ mẹ con = 99,9999%. Kết luận kết quả cho thấy người con, người cha giả định và người mẹ có chung một số gen ở tất cả các loci nên không loại bỏ được sự liên hệ huyết thống cha mẹ con. Mặt khác dựa vào số liệu tần suất các 'gen alen” của người Việt Nam ở các loci trên và sau khi so sánh những giữ liệu có được với một người Việt Nam không liên hệ huyết thống, xác suất ông Phạm Hồng P là cha đẻ của Lương Ngọc T1 Vy là 99.9999%, xác suất bà Lương Thị Q là mẹ đẻ của Lương Ngọc T1 Vy là 99,9999% ’' Tòa án đã tiến hành công bố Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống và các bên đương sự vẫn không có ý kiến tranh chấp đối với kết quả giám định.

Từ những căn cứ đã phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Ngọc Tường V. Xác định ông Phạm Hồng P là cha đẻ và bà Lương Thị Q là mẹ đẻ của trẻ Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002. Bà Lương Thị Q và ông Phạm Hồng P được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho Lương Ngọc Tường V.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. tại phiên tòa: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lương Ngọc Tường V là có căn cứ, nên chấp nhận.

[5] Về án phí: theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Lương Ngọc Tường V thuộc trường hợp phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: các Điều 88, 90, 91, 101, 102 và 128 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 267; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Ngọc Tường V.
    • - Xác định ông Phạm Hồng P và bà Lương Thị Q là cha đẻ và mẹ đẻ của bà Lương Ngọc Tường V, sinh ngày 26/12/2002.
    • - Ông Phạm Hồng P và bà Lương Thị Q được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho bà Lương Ngọc Tường V.
  2. Về án phí: Bà Lương Ngọc Tường V phải nộp án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1267/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp xác định cha mẹ cho con

  • Số bản án: 1267/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha mẹ cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger