|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1267/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/11/2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Tiên
- Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 - Tp ..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2023 tại Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 869/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1111/2023/QĐXX-ST ngày 30/10/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1992; ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú hiện nay: Nhà không số, Tổ B, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1991; ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai.
Nơi cư trú hiện nay: Nhà không số ( số T), Tổ D, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ngọc N và ông Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, Quyển số 01/2014 ngày 16/9/2014.
Do quá trình chung sống không hòa hợp, mâu thuẫn nhiều về tính cách, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật Bảo T, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/3/2017. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ kiện, nên Tòa án giải quyết vụ kiện vắng mặt ông Nguyễn Văn L.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về thời hạn giải quyết vụ án thì đảm bảo theo quy định. Về việc giải quyết nội dung vụ án, kiểm sát viên nhận thấy tất cả các yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn ông Nguyễn Văn L đang cư ngụ tại Quận A nên căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12.
Bà Nguyễn Thị Ngọc N, ông Nguyễn Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị Ngọc N và ông Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, Quyển số 01/2014 ngày 16/9/2014. Theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thì hôn nhân giữa bà N, ông L là đảm bảo giá trị pháp lý.
Nay bà N yêu cầu xin ly hôn với ông L do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Tại Biên bản xác minh ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12 thì Ủy ban nhân dân phường T, Quận A cho biết: “Hiện nay 02 người không còn sống chung với nhau tại số C, Tổ 4 và chồng ở tại địa chỉ này. Hiện 02 người có 02 con chung đang ở với mẹ”. Như vậy, có cơ sở khẳng định mẫu thuẫn của bà N, ông L là có thật, phù hợp với lời trình bày của bà N.
Khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình: “ Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng...”
Vì vậy, việc bà N nộp đơn đến Tòa án nhân dân Quận 12 xin ly hôn với ông L vì bà cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được đó là quyền nhân thân chính đáng nên yêu cầu xin ly hôn của bà N là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật Bảo T, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/3/2017. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng.
Tại Bản tự khai ngày 27/10/2023 của trẻ Nguyễn Nhật Bảo T thì trẻ Trân trình bày mong muốn được ở với mẹ nếu cha mẹ ly hôn và thực tế trẻ T, trẻ Nguyễn Tuấn K cũng đang sống chung với mẹ. Xét yêu cầu của bà N là phù hợp với mong muốn của con nên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này của bà N là có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc N phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2023/0030550 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, Quyển số 01/2014 ngày 16/9/2014 do Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc N và ông Nguyễn Văn L không còn giá trị.
2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật Bảo T, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/3/2017. Giao con chung tên Nguyễn Nhật Bảo T và Nguyễn Tuấn K cho bà Nguyễn Thị Ngọc N được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành.
Tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Nguyễn Văn L.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi cần thiết có thể xin thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc N phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2023/0030550 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Trí |
Bản án số 1267/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1267/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
