|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1264/2024/HNGĐ-ST
Ngày : 27/09/2024
V/v tranh chấp : “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Xuân Nam
2. Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/03/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 334/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/08/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Như H, sinh năm 1973 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Cao Mộng L, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Cùng thường trú: 9 N, Phường H, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 13/3/2024 và các lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Như H trình bày:
Bà Lê Thị Như H và ông Cao Mộng L tự nguyện kết hôn năm 1998, đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Phường H2, quận P cấp số 21, quyển số 01/98 ngày 20/04/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống nhưng thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Trong thời gian chung sống ông Lâm S ra tật cờ bạc. Bên cạnh đó ông L thường xuyên say xỉn dẫn đến sự khủng bố tinh thần bà H.
Gần đây ông L có hành vi đe dọa đánh đập (bằng hung khí) xâm phạm đến tính mạng của bà H. Bà H có nhờ sự can thiệp của Công an P1, quận P và đã có đơn tường trình tại cơ quan công an. Nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung tên Cao Mạnh H1, sinh ngày 02/04/2000 và Cao Hà M, sinh ngày 27/7/2007. Trẻ Hoàn đã trưởng thành. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Cao Hoài M1 cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Cao Mộng L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông L vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị Như H yêu cầu ly hôn với ông Cao Mộng L là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xét xử trong trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
Theo kết quả xác minh của Công an P1, quận P, ông Cao Mộng L có đăng ký thường trú và hiện đang cư trú tại số I N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 06/09/2024 và phiên tòa sơ thẩm hôm nay nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt ông L.
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà H và ông L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Phường H2, quận P cấp số 21, quyển số 01/98 ngày 20/04/1998 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, không hạnh phúc. Tại phiên tòa bà H xác nhận không còn tình cảm với ông L, đời sống chung không thể kéo dài và có nguyện vọng ly hôn.
Ông L lại vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc lấy lời khai, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm. Ông L cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà H và cũng không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào. Điều này cho thấy ông L không quan tâm việc duy trì quan hệ hôn nhân với bà H. Nếu tiếp tục cuộc sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được.
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà H cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung:
Bà H và ông L có 02 con chung tên Cao Mạnh H1, sinh ngày 02/04/2000 và Cao Hà M, sinh ngày 27/7/2007. Trẻ Hoàn đã trưởng thành.
Xét thấy bà H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ M đến khi đủ 18 tuổi, bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai, trẻ M cũng có mong muốn chung sống cùng bà H.
Để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như điều kiện học tập, sinh hoạt phù hợp với lợi ích của trẻ M, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà H.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở. Con chưa thành niên cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà H chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032303 ngày 27/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Như H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Như H ly hôn với ông Cao Mộng L.
- - Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung tên Cao Mạnh H1, sinh ngày 02/04/2000 và Cao Hà M, sinh ngày 27/7/2007. Trẻ Hoàn đã trưởng thành.
Sau khi ly hôn bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ M cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở. Con chưa thành niên cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032303 ngày 27/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Lê Thị Như H được quyền kháng cáo. Ông Cao Mộng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Đăng Hà |
Bản án số 1264/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1264/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Như H ly hôn ông Cao Mộng L
