|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thế Hải
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Lê Duy C, sinh năm 1994 tại xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Quản lý trạm giao nhận - T5 thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn N2 (đã nghỉ việc); trình độ học vấn: Cao đẳng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Duy L và bà Lê Thị T; vợ là Lê Thị N; có 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn N2 (Gọi tắt là Công ty N3).
Trụ sở chính: 117/2D1 đường H, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn Quốc K - Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Huỳnh Huyền T1 và ông Vũ Duy K1 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Duy C là Quản lý Trạm giao nhận T5 (THH - T - NOR - SUB 2) địa chỉ tại phường H, thị xã N, Thanh Hóa thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn N2 (gọi tắt là công ty N3) theo Hợp đồng lao động số HDLD.2/2021/07/260 ngày 01/7/2021. Thời hạn hợp đồng là 36 tháng, kể từ ngày 01/7/2021 đến ngày 30/6/2024.
Với chức vụ là Quản lý Trạm giao nhận, C có trách nhiệm quản lý các “riders” (Nhân viên giao nhận) trong khu vực DP/Station (Trạm giao nhận T) theo tiêu chí KPI (Chất lượng giao hàng, tỷ lệ giao thành công, phản ánh của khách hàng) của Công ty; kiểm đếm hàng hóa theo biên bản hoặc trên hệ thống; giám sát hàng hóa trong ngày, đảm bảo hàng hóa phải được giao đến khách hàng, đảm bảo hàng không bị tồn kho; bảo quản hàng hóa tại Trạm quản lý đảm bảo không bị mất, hư hỏng; nhận, kiểm tra, thu tiền và báo cáo COD (tiền thu về) trong ngày; giao nhận và bàn giao giữa nhân viên giao nhận với drivers (App hệ thống), phân hàng cho nhân viên giao nhận; giám sát nhân viên giao nhận: đảm bảo nhân viên giao nhận hoàn thành lộ trình của họ đúng giờ; hỗ trợ và khắc phục sự cố của nhân viên giao nhận trong quá trình giao hàng; đảm bảo tất cả hàng đã được giao phải xử lý trên App và hệ thống; thu COD từ nhân viên giao nhận và phân loại hàng hóa giao thất bại vào cuối ngày; duy trì chất lượng của nhân viên giao hàng: kỷ luật, thái độ của nhân viên giao hàng và hiệu suất công việc; hỗ trợ các công việc có liên quan dưới sự phân công của Quản lý; quản lý trang thiết bị tại Trạm, tuân thủ quy định về vệ sinh và an toàn tại Trạm.
Khoảng cuối tháng 8 năm 2022, do cần tiền để trang trải cuộc sống, C nảy sinh ý định xử lý và cập nhật sai trạng thái các đơn hàng trên hệ thống của Ninja V để chiếm đoạt của Công ty số tiền thu từ khách hàng (gồm tiền cước và tiền thu hộ), cụ thể: Sau khi nhận các đơn hàng từ kho tổng của Ninja V ở Hà Nội đến Trạm giao nhận T, C có trách nhiệm phân loại đơn hàng giao cho các nhân viên giao hàng của T2 đi giao theo địa bàn được phân công. Đến cuối ngày các nhân viên giao hàng bàn giao lại cho C tiền thu của khách hàng và các đơn hàng chưa giao được. Đối với các đơn hàng giao thất bại, thì nhân viên giao hàng sẽ cập nhật trạng thái không giao được với nhiều lý do khác nhau và báo về ứng dụng (App) của Ninja V. Bản thân C cũng biết được thông tin này thông qua ứng dụng trên máy tính tại Trạm. Những đơn hàng giao thất bại 03 lần liên tiếp, thì hệ thống sẽ tự động cập nhật trạng thái là hoàn hàng về cho người gửi hàng. Tuy nhiên, nhận thấy những đơn hàng này khách vẫn có thể nhận nên C đã trực tiếp gọi điện cho khách hàng, hỏi họ có nhận hàng nữa không? Nếu khách hàng đồng ý nhận, C sẽ chủ động đi giao và nhận tiền thu của khách hàng hoặc giao cho nhân viên đi giao hàng, thu tiền của khách, sau đó bàn giao lại cho C. Do những đơn hàng này không còn cập nhật trên hệ thống vì đã báo hoàn hàng nên số tiền thu được C sẽ chiếm đoạt để tiêu xài. Ngoài ra, C còn biết được mật khẩu đăng nhập tài khoản giao hàng của một số nhân viên, nên C đã đăng nhập vào tài khoản giao hàng của số nhân viên này và thêm các đơn hàng mà C có ý định chiếm đoạt vào lộ trình của nhân viên giao hàng, đồng thời thao tác trên tài khoản của nhân viên giao hàng là đơn hàng giao thất bại 03 lần và đơn hàng sẽ tự động cập nhật trạng thái hoàn hàng về cho người gửi hàng. Sau đó, các đơn hàng này được C giao cho khách với phương thức tương tự nêu trên.
Theo quy định của Công ty N3, C là Trưởng Trạm giao nhận (IC) thực hiện quét (scan) lại hàng hóa RTS vào mỗi sáng trước khi xe tải đến nhận lại hàng RTS sau đó cho bưu kiện hoàn vào bao hàng RTS, niêm phong bao hàng và giao cho xe tải chở về kho tổng, đồng thời thao tác xử lý trên hệ thống để cập nhật trạng thái “Added to Shipment” cho đơn hàng. Sau khi được chuyển về kho tổng, hàng hóa sẽ được chuyển đến trạm phụ trách hoàn đơn hàng. Sau đó, IC của trạm phụ trách hoàn đơn hàng có trách nhiệm quét nhập đơn hàng vào trạm và thêm vào lộ trình cho tài xế để thực hiện hoàn cho người gửi. C đã lợi dụng quyền hạn của mình là T3 trạm giao nhận để tự thêm đơn hàng RTS vào lộ trình của tài xế trạm T5 (thực tế Trạm phụ trách hoàn đơn hàng không phải là T5) hoặc dùng tài khoản IC của chính C để kích hoạt trạng thái hoàn hàng thành công cho người gửi trên hệ thống.
Ngoài ra, khoảng tháng 6/2021, C còn mượn chứng minh thư và tài khoản ngân hàng của chị Lê Thị N1, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, là em họ của C để lập hồ sơ cho chị N1 làm nhân viên giao hàng của Trạm giao nhận T6 C đã sử dụng tài khoản giao hàng đứng tên chị N1 để đi giao hàng và hưởng lương của Công ty N3. Khoảng tháng 8/2022, C sử dụng tài khoản này thực hiện các thao tác thêm đơn hàng và xác nhận sai tình trạng đơn hàng để chiếm đoạt tiền thu được từ việc giao hàng thành công như cách thực hiện đối với các tài khoản của những nhân viên khác.
Quá trình điều tra đã xác định, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 8/2022 đến giữa tháng 2/2023, số lượng đơn hàng C xử lý cập nhật sai trạng thái trên hệ thống của Công ty N3 là 900 đơn hàng. Tất cả các đơn hàng này đều không được chuyển về kho tổng của Công ty N3 và không được bàn giao lại cho Công ty sau khi C nghỉ việc tại Trạm giao nhận T5 (THH - T - NOR - SUB 2). Kết quả xác minh tại Trạm giao nhận T5 (THH - T - NOR - SUB 2), thì các đơn hàng này hiện tại cũng không được lưu trữ tại Trạm. Tổng số tiền C thu của khách đối với 900 đơn hàng này không nộp về Công ty N3 là 314.445.848 đồng. Toàn bộ số tiền này C đã sử dụng tiêu xài cá nhân.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N tiến hành trưng cầu giám định đối với điện thoại di động thu giữ của Lê Duy C. Tại Kết luận giám định số 4221/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Không tìm thấy dữ liệu đã xóa trong điện thoại gửi giám định.
- Tìm thấy 92 tin nhắn Message, 02 ảnh trong điện thoại gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục.
- Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Zalo, Facebook Messenger trong điện thoại gửi giám định.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Duy C đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tiền của công ty N3 mà C có trách nhiệm quản lý như đã nêu trên; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi của C sử dụng tài khoản ngân hàng và giấy tờ tùy thân của chị Lê Thị N1 để lập hồ sơ nhân viên giao hàng của Trạm giao nhận T5, mục đích ban đầu của C là lấy tài khoản giao hàng đứng tên chị N1 để đi giao hàng và hưởng thêm tiền công từ Công ty N3. Công ty N3 trả chi phí dịch vụ mà không ký kết hợp đồng lao động với C, số tiền C được hưởng dựa trên đơn hàng đã giao thành công nên hành vi của C chỉ vi phạm quy định của Công ty mà không cấu thành tội phạm.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã tiến hành thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, màu trắng xanh, số IMEI 1: 861128057081793, số IMEI 2: 861128057081785. Kèm theo 01 SIM có ghi số: 8984048000064637895 của Lê Duy C. Hiện vật chứng đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty N3 yêu cầu bị cáo bồi thường 314.445.848đ đồng. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho Công ty N3. Công ty N3 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 133/CT-VKSNS ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Duy C về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TX Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Duy C từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, màu trắng xanh của Lê Duy C là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước.
Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Đại diện theo ủy quyền của bị hại xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Duy C thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 8/2022 đến giữa tháng 2/2023, Lê Duy C với cương vị là Quản lý Trạm giao nhận T5 (T-NOR-SUB 2) thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn N2 có trách nhiệm quản lý đối với hàng hóa và tiền thu từ khách hàng (gồm tiền cước và tiền thu hộ), C đã lợi dụng quyền hạn của mình cập nhật sai tình trạng đơn hàng, thay đổi lộ trình giao hàng để chiếm đoạt của Công ty N3 tổng số tiền 314.445.848 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân.
Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của bị cáo Lê Duy C đã phạm vào tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của VKSND Thị xã Nghi Sơn và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo đã lợi dụng quyền hạn của mình là quản lý Trạm giao nhận để làm sai lệch tình trạng các đơn hàng trên hệ thống nhằm chiếm đoạt tài sản của Công ty. Không những gây thiệt hại vật chất cho công ty, mà còn làm mất uy tín của Công ty với khách hàng. Nhiều khách hàng cho rằng Công ty T7 nên đã chấm dứt hợp đồng với Công ty. Hành vi của bị cáo làm mất lòng tin của người dân vào hoạt động thương mại điện tử, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nói chung nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng tặng theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của công ty, Công ty đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố bị cáo từng được UBND xã G tặng giấy khen vì có thành tích Xuất sắc trong công tác tìm kiếm cứu nạn 2021; quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo tham gia tốt phong trào ủng hộ các cháu mồ côi có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lê Duy C có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo ăn năn hối cải, đã tác động bồi thường khắc phục hậu quả toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo. Đây là sự khoan hồng của pháp luật, để bị cáo yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự qui định "Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, xét thấy gia đình bị cáo khó khăn, hiện đang nuôi hai con nhỏ nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[7] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, màu trắng xanh của Lê Duy C dùng để liên lạc giao hàng cho khách rồi chiếm đoạt tiền của công ty. Đây là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối Lê Duy Cường;
Điều 47; Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên bố: Lê Duy C phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt: Lê Duy C 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, màu trắng xanh, số IMEI 1: 861128057081793, số IMEI 2: 861128057081785; kèm theo 01 SIM có ghi số: 8984048000064637895 được đựng vào một phong bì màu trắng, mặt trước có ghi: KLGĐ số 4221/KL-KTHS ngày 20/11/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh T, mặt sau có 03 hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K2 - Công an tỉnh T”, phong bì được dán kín và niêm phong bởi: Chữ ký đứng tên Trần Thị H, Nguyễn Xuân T4. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (Theo phiếu nhập kho số NK2024/108 ngày 06/8/2024).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Bị hại quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự - tham ô tài sản
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối Lê Duy C; Điều 47; Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết. Tuyên bố: Lê Duy C phạm tội “Tham ô tài sản”. Xử phạt: Lê Duy C 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
