Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

Bản án số: 126/2024/DS-PT

Ngày: 30-8-2024

V/v: “Tranh chấp về nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Đức

Ông Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Huyền – Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Võ Thị Kim Anh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về nợ hụi”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 282/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 143/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm: 1981; cư trú tại số D, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1978; cư trú tại thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L – Bị đơn.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T trình bày: Vào năm 2021 bà T có tham gia chơi huê do bà L làm chủ, với nhiều dây huê, mỗi phần 5.000.000đ, mỗi tháng khui huê một lần, hàng tháng theo giao kèo bà T đã đóng đầy đủ số tiền huê tương ứng. Đến ngày 17/4/2023 bà T và bà L cùng nhau chốt lại số tiền của các dây huê và ghi thành giấy mượn tiền với số tiền bà L còn nợ bà T là 347.000.000đ và hứa đến tháng 7/2023 sẽ trả trước 120.000.000đ, số còn lại hẹn đến tháng 12/2023 sẽ trả hết cộng với lãi suất theo ngân hàng là 1%/tháng. Nhưng sau đó bà L chỉ trả cho bà T được số tiền 59.210.000đ. Số tiền còn lại bà T đã đòi nhiều lần nhưng bà L không trả.

Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền còn thiếu là 287.790.000đ và không yêu cầu tính lãi suất.

- Bà Hồ Thị P là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Bà L thừa nhận có việc chơi huê với bà T và ngày 17/4/2023 bà L có viết giấy mượn tiền với số tiền vay là 347.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 1%/tháng và hứa đến tháng 7/2023 sẽ trả trước 120.000.000đ, số còn lại hẹn đến tháng 12/2023 sẽ trả hết cộng với lãi suất. Sau đó, con gái của bà L là chị Trần Thị Quỳnh N đã chuyển khoản trả tiền lãi + huê qua tài khoản của bà T tại Ngân hàng S số tiền 109.210.000đ và có nhờ em chồng là bà Trần Thị Thanh T1 chuyển trả tiền huê 50.000.000đ cho bà T. Vì vậy bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc T đối với bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp về nợ hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền là 287.790.000đ (Hai trăm tám mươi bảy triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 02/7/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, bà L chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền 9.210.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay: Giữa nguyên đơn bà T và bị đơn bà L đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Theo đó, bị đơn bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 250.000.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự, tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm: Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn bà Nguyễn Thị L trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 250.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L; người kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay: Giữa nguyên đơn bà T và bị đơn bà L đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Theo đó, bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 250.000.000đ. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên đương sự trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên công nhận.

[2] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 12.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Do sửa bản án sơ thẩm liên quan đến kháng cáo nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T với bị đơn bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp về nợ hụi”.
  2. Bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:
  4. Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 12.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007123 ngày 15/7/2024 của Chi cục thi hành án huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, bà L còn phải nộp 12.200.000đ án phí.

    Hoàn trả cho bà Phạm Thị Ngọc T số tiền 7.500.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006784 ngày 04/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng KT-NV & THA (01);
  • - TAND huyện Bảo Lâm (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bảo Lâm (01)
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp về nợ hụi

  • Số bản án: 126/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nợ hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ngọc T tranh chấp về nợ hụi Nguyễn Thị Loan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger