Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/KDTM-PT

Ngày: 29/5/2024

V/v: tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuấn

Bà Phạm Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 +29/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 79/2024/KDTM - PT ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 238/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 24/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 282/2024/QĐ-HPT ngày 10/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 305/QĐ-HPT ngày 23/5/2024, giữa:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ1.

Địa chỉ: Số B, Đ, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần M - Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Phương H, ông Trần Quốc Đ. Địa chỉ: Số A T, phường D, quân C, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ2.

Địa chỉ: Số C xóm D, thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên hệ: Tầng B, tòa N, khu đô thị V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Văn H1 - Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hương G, bà Hồng Thị Vân A Luật sư Nguyễn Thành L - Công ty L1 bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Công ty Đ2

(Các đương sự và luật sư có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Công ty Cổ phần Đ1 (Gọi tắt là Công ty Đ1) là đơn vị thực hiện Công trình hạ tầng Vincity tại phường L, L quận I, thành phố Hồ Chí Minh (Gọi tắt V).

Ngày 14/11/2018 Công ty Đ1 ký kết Hợp đồng cung cấp và gia công rải thảm bê tông nhựa nóng mang số 67/2018/HM-ĐT (Gọi tắt là Hợp đồng 67) với Công ty Cổ phần Đ2 (Gọi tắt Công ty Đ2). Nội dung hợp đồng thể hiện việc Công ty Đ2 nhận thi công thảm bê tông nhựa nóng trọn gói bao gồm: vệ sinh, tưới nhựa dính bám hai lớp, thảm BTNN C19 cho Công ty Đ1 tại V với khối lượng 2.200 tấn, đơn giá 1.300.000đ/tấn. Hợp đồng còn quy định chi tiết về quy cách, chất lượng hàng hóa, thời gian, địa điểm thi công, điều kiện thanh toán và trách nhiệm của các bên. Sau khi ký kết Hợp đồng 67, hai bên còn tiếp tục ký kết 02 Phụ lục hợp đồng mang số 01-2019/PLHD ĐT-HM ngày 28/8/2019 và 67/2018/PLHĐ/HM-ĐT-06 ngày 25/5/2020 để điều chỉnh đơn giá bê tông nhựa nóng và thời gian dự kiến thi công (Gia hạn thời gian).

Thực hiện hợp đồng, Công ty Đ1 đã hoàn thành toàn bộ công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng. Hai bên cũng đã tiến hành đối chiếu, lập bảng thống kê giá trị đã thanh toán/tạm ứng đầy đủ. Công ty Đ1 cũng đã xuất 02 hóa đơn GTGT cho giá trị khối lượng thảm BTNN đợt 21 và đợt 22 cho công trình V. Tuy nhiên, Công ty Đ2 mới chỉ thanh toán được một phần tiền, sau đó không trả. Vì vậy, Công ty Đ1 khởi kiện yêu cầu Công ty Đ2 phải thanh toán số tiền nợ gốc chưa trả là 3.820.195.020đ và lãi chậm trả.

Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Công ty Đ2 đã thanh toán cho Công ty Đ1 1.200.000.000đ, cụ thể:

  • - Ngày 01/9/2022, Công ty Đ2 thanh toán 300.000.000 đồng
  • - Ngày 30/9/2022, Công ty Đ2 thanh toán 300.000.000 đồng
  • - Ngày 30/11/2022, Công ty Đ2 thanh toán 200.000.000 đồng
  • - Ngày 17/01/2023, Công ty Đ2 thanh toán 300.000.000 đồng

Còn nợ Công ty Đ1 số tiền 2.520.195.020 đồng nhưng Công ty Đ2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, không thanh toán giá trị đơn hàng tại Đ và Đợt 22 theo Hợp đồng và các công văn cam kết gửi cho Công ty Đ1. Do số tiền nợ đã quá lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Đ1. Vì vậy, Công ty Đ1 yêu cầu Công ty Đ2 thanh toán cho Công ty Đ1 số tiền bao gồm cả nợ gốc và tiền lãi do chậm thanh toán nợ gốc (tính đến ngày 16/5/2023) là 3.168.019.422 đồng.

Công ty cổ phần Đ2 không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng do Công ty G1 nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh nên không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đúng thời hạn mà hai bên đã thỏa thuận.

Công ty Đ2 thừa nhận còn nợ Công ty Đ1 số tiền là 2.250.195.020 đồng, Công ty Đ3 trả số nợ trên bằng cách mỗi tháng trả 100.000.000 đồng (Kể từ tháng 5/2023) cho đến khi hết nợ nhưng không đồng ý thanh toán trả tiền lãi như yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ1.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội đã quyết định:

“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ1.

Buộc bị đơn là Công ty Cổ phần Đ2 phải thanh toán số tiền:

- Nợ gốc: 2.520.195.020 đồng

- Nợ lãi: 739.656.166 đồng

- Tổng cộng: 3.259.851.186 đồng

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền gốc và thời gian chưa thi hành án..."

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty Đ2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Lý do chất lượng thảm bê tông nhựa không đảm bảo theo hợp đồng do kiến nghị từ Chủ đầu tư.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơ trình bày luận cứ có nội dung chính: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là quan hệ dân sự “Kiện đòi tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của dân sự (Khoản 3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự). Thực tế yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn liên quan đến việc thanh toán tiền thi công hạng mục cung cấp gia công bê tông nhựa nóng – Đây là tranh chấp hợp đồng kinh tế, áp dụng luật tại khoản 1 Điều 30, điểm b Khỏan 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết. Việc áp dụng sai pháp luật không toàn diện để giải quyết vụ án. Tòa án sơ thẩm nhận định không đúng tình tiết khách quan của vụ án “Hai bên có đối chiếu công nợ sau mỗi đợt giao hàng” nhưng thực tế hai bên không có biên bản đối chiếu công nợ liên quan đến

phạm vi khởi kiện của Nguyên đơn. Công tác bảo hành công trình của Nguyên đơn không đảm bảo chất lượng theo quy định nhưng Bị đơn vẫn thiện trí giải quyết riêng về vấn đề bảo hành, Bị đơn không phản đối với khoản nợ gốc phải trả nhưng về nợ lãi thì Bị đơn không đồng ý yêu cầu thanh toán lãi chậm trả. Công văn trao đổi giữa hai bên không có nội dung phải trả lãi phát sinh trên nợ gốc. Hồ sơ thanh toán đợt 21 và 22 chưa đầy đủ nên chưa phát sinh trách nhiệm thanh toán. Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án Thanh Oai xét xử lại vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Bị đơn làm và nộp trong thời hạn nên kháng cáo hợp lệ.

Tòa án sơ thẩm có thiếu sót khi xác định tranh chấp của vụ án là tranh chấp dân sự. Đây là tranh chấp hợp đồng xây dựng. Do xác định sai quan hệ pháp luật nên Tòa án sơ thẩm cho đương sự nộp tạm ứng án phí theo mức giá ngạch quy định đối với án dân sự.

Xét về nội dung: Có căn cứ để chấp nhận yêu cầu đòi số tiền nợ gốc 2.520.195.020đ của Công ty Đ1 do hai bên đã xác định khoản nợ tại các công văn, biên bản làm việc, xác nhận. Về yêu cầu đòi tiền lãi chậm trả: Theo quy

định tại Điều 5 của Hợp đồng 67 quy định “Bên A có trách nhiệm thanh toán cho Bên B theo đúng điều 4 Hợp đồng, nếu bên A chậm thanh toán thì phải chịu phạt số tiền bằng lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng N trên tổng số nợ còn tồn đọng tại thời điểm thanh toán”. Nguyên đơn đề nghị áp dụng lãi suất 10%/năm số tiền gốc chưa trả là phù hợp.

Kháng cáo của Bị đơn cho rằng chất lượng bê tông không đúng quy định nhưng không có thắc mắc gì về sản phẩm khi giao nhận hàng nên không có căn cứ xem xét. Đề xuất: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ tố tụng dân sự: Sửa án sơ thẩm về quan hệ pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Xét về thủ tục kháng cáo:

Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Công ty Cổ phần Đ2 (Công ty Đ2) làm và nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo được chấp nhận về hình thức.

Xét về quan hệ pháp luật:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 17/11/2021 của Công ty Cổ phần Đ1 (Công ty Đ1) yêu cầu Công ty Đ2 phải thanh toán số tiền 3.820.195.020đ trong đó có 3.820.195.020đ (Nợ gốc) và 162.069.256đ (Lãi chậm trả) là số tiền còn nợ xuất phát từ Hợp đồng cung cấp và gia công rải thảm bê tông nhựa nóng giữa Công ty Đ1Công ty Đ2. Do vậy, đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xây dựng, vụ án kinh doanh thương mại.

Xét về nội dung kháng cáo:

Hợp đồng 67 được các bên tham gia ký kết tự nguyện, đảm bảo đúng điểu kiện về chủ thể. Nội dung hợp đồng không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực đối với các bên.

Thực hiện hợp đồng, Công ty Đ1 đã tiến hành thi công thảm bê tông nhựa nóng cho Công ty Đ2 đúng địa điểm, thời gian. Các bên đã tiến hành đối chiếu, lập bảng tổng giá trị đề nghị thanh/quyết toán đầy đủ. Công ty Đ1 cũng đã xuất

các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty Đ2. Công ty Đ2 cũng đã thực hiện nghĩa vụ trả một phần tiền và nhiều lần gửi công văn cam kết lộ trình thanh toán nhưng không thực hiện đúng cam kết đã nêu.

Tại Điều 4 hợp đồng (bút lục 13) quy định hồ sơ thanh toán gồm: Biên bản nghiệm thu có xác nhận của đại diện hai bên, hóa đơn GTGT, biên bản đối chiếu công nợ giữa hai bên, giấy đề nghị thanh toán. Nguyên đơn đã xuất trình các hồ sơ thanh toán đợt 21, 22 có đầy đủ các thủ tục theo quy định tại hợp đồng để yêu cầu bị đơn thanh toán.

Căn cứ các Bảng tổng hợp khối lượng và giá trị công việc hoàn thành đợt 21 ngày 14/4/2021 (bút lục 34), đợt 22 ngày 15/6/2021 (bút lục 22) thì giá trị khối lượng công việc Công ty Đ1 đã hoàn thành (đã gồm thuế GTGT) đợt 21 là 4.702.167.800đ, đợt 22 là 1.734.563.000đ. Công ty Đ1 đã xuất các hóa đơn giá trị gia tăng số 84 ngày 29/4/2021 (bút lục 09), số 90 ngày 30/6/2021 (bút lục 08). Công ty Đ2 đã thực hiện thanh toán được một phần giá trị công việc đợt 21. Tại đơn yêu cầu tiến hành hòa giải ngày 11/5/2023 (bút lục 103) người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ2 đã xác nhận dư nợ gốc tính đến 11/5/2023 Công ty Đ2 còn phải thanh toán cho Công ty Đ1 là 2.520.195.020đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn trả nợ gốc 2.520.195.020đồng là có căn cứ.

Bị đơn kháng cáo cho rằng chất lượng bê tông do nguyên đơn thi công không đảm bảo theo kiến nghị từ chủ đầu tư nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh cũng như trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn không có yêu cầu phản tố hay đưa ra ý kiến về chất lượng hàng hóa nguyên đơn đã cung cấp. Trong các biên bản xác nhận công việc hoàn thành cũng như tại công văn số 02/2022/CV-HM ngày 18/01/2022 (bút lục 53) thì Công ty Đ2 cũng chỉ xác nhận việc thanh toán công nợ cho Công ty Đ1. Do đó kháng cáo của bị đơn cho rằng chất lượng bê tông do nguyên đơn thi công không đảm bảo để từ

chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán là không có căn cứ.

Về lãi chậm thanh toán:

Tại Điều 5 hợp đồng quy định: "Bên A có trách nhiệm thanh toán cho bên B theo đúng Điều 4 hợp đồng, nếu bên A chậm thanh toán thì phải chịu phạt số tiền bằng tiền lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng N trên tổng số nợ còn tồn đọng tại thời điểm thanh toán". Thời hạn thanh toán theo Điều 4 hợp đồng là trong vòng 20 ngày kể từ ngày Công ty Đ2 nhận được hồ sơ thanh toán từ Công ty Đ1. Công ty Đ2 đã gửi các công văn số 02/2022, số 03/2023 cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán giá trị công nợ cho Công ty Đ1 nhưng thực tế Công ty Đ2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Đối chiếu bảng tính lãi chậm trả (bút lục 128) do nguyên đơn xuất trình thì nguyên đơn đề nghị áp dụng mức lãi suất chậm trả là 10%/năm. Do các bên không thỏa thuận mức lãi suất phạt chậm trả cụ thể nên căn cứ Điều 306 Luật thương mại, Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, HĐXX cấp phúc thẩm xét thấy mức lãi suất chậm trả nguyên đơn đề nghị là có căn cứ. Tính đến ngày 26/9/2023, số tiền lãi chậm trả Công ty Đ2 phải thanh toán là 739.656.166đồng.

Sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xác định quan hệ pháp luật không làm thay đổi bản chất của vụ án, không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của đương sự nên không phải căn cứ để hủy án. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Kháng cáo của Công ty Đ2 không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với nhận định của HĐXX.

Từ những nhận định trên

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH

Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày

26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ1 đối với Công ty Cổ phần Đ2 về việc đòi tiền cung cấp và gia công rải thảm bê tông nhựa nóng.

Công ty Cổ phần Đ2 phải thanh toán trả Công ty Cổ phần Đ1 số tiền:

  • - Nợ gốc: 2.520.195.020 đồng
  • - Nợ lãi: 739.656.166 đồng
  • Tổng cộng: 3.259.851.186 đồng

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (27/9/2023) người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với khoản tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về án phí: Công ty Cổ phần Đ2 phải chịu 97.197.000 đồng tiền án phí KDTM sơ thẩm và 2.000.000đ án phí KDTM phúc thẩm; Công ty đã nộp tạm ứng 300.000đ tiền tạm ứng theo biên lai số 054262 ngày 11/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai nay được trừ vào tiền án phí phải nộp. Hoàn trả Công ty Cổ phần Đ1 56.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 053831 ngày 01/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND huyện Thanh Oai;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Oai;
  • - Lưu HS/VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/KDTM-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 126/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger