TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Đê;
- Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Quang T, sinh năm 1993. Nơi sinh: Xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 2, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1969 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1973; anh em ruột có 03 người, bị cáo là thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Bị hại: Bà Mai Thị N, sinh năm 1970 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Mai Thị R, sinh năm 1949. Địa chỉ: Xóm 4, xã HV, huyện HH, tỉnh Nam Định (mẹ đẻ).
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Mai Thị R: Anh Mai Ngọc T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm 4, xã HV, huyện HH, tỉnh Nam Định (văn bản uỷ quyền ngày 03/11/2023).
- Người làm chứng:
- Ông Lê Xuân D, sinh năm 1972;
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1969;
- Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1982.
(Có mặt bị cáo, ông T1; vắng mặt anh T2, ông D, anh L)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 50 phút ngày 17/10/2023, Trần Quang T có giấy phép lái xe ô tô hạng C, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 34C-051.83 đi trên Quốc lộ 37B theo hướng từ xã Hải Hưng đi thị trấn YĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. Khi đi đến khu vực xóm Tây Lễ, xã HH, huyện HH, T vượt xe phía trước không đảm bảo an toàn dẫn đến mặt ngoài bên phải ba đờ sốc phía trước xe ô tô BKS 34C-051.83 va chạm với gáo gương chiếu hậu, đầu núm tay nắm lái bên trái xe mô tô BKS 18Z1-8865 do bà Mai Thị N, sinh năm 1970 trú tại xóm 4, xã HV, huyện HH điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả: Bà N bị bánh sau xe ô tô đè qua người tử vong tại chỗ; xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1550/KL-KTHS ngày 23 tháng 10 năm 2023, phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Bà Mai Thị N chết do sốc đa chấn thương.
Bản kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐG ngày 08/11/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Cup, BKS 18Z1-8865 là 700.000 đồng; thiệt hại của xe ô tô tải nhãn hiệu VIETTRUNG, BKS 34C-051.83 là 600.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Quang T đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 122/CT-VKS-HH ngày 29/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Quang T khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội; ăn năn, hối lỗi và xin được cải tạo tại địa phương để chăm lo, xây dựng gia đình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã Hải Cường giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trả tự do bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 17/10/2023, Trần Quang T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải BKS 34C-051.83 trên Quốc lộ 37B theo hướng xã Hải Hưng đi thị trấn YĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. Khi đi đến khu vực xóm Tây Lễ, xã HH, huyện HH, T điều khiển xe vượt phương tiện phía trước không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 18Z1-8865 do bà Mai Thị N điều khiển đi cùng chiều khiến bà N tử vong tại chỗ do sốc đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2018 làm chết 01 người. Bị cáo là người có thể chất tỉnh táo, bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo đã điều khiển phương tiện giao thông có động cơ là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng cẩu thả, thiếu chú ý quan sát gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, thật thà ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 110.000.000 đồng. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Do đó, về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Xe mô tô BKS 18Z1-8865 là tài sản hợp pháp của bị hại bà Mai Thị N; xe ô tô tải BKS 34C-051.83 bị cáo điều khiển gây tai nạn là tài sản hợp pháp của ông Lê Xuân Duy (bị cáo lái xe thuê cho ông Duy). Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô, xe ô tô cho đại diện hợp pháp của bà N và ông Duy sở hữu là phù hợp.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
1.1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1.2. Xử phạt Trần Quang T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày 28 tháng 12 năm 2023 (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến ngày 28/12/2023). Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà.
Giao bị cáo Trần Quang T cho Ủy ban nhân dân xã Xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hoè |
Bản án số 126/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 126/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 17/10/2023, Trần Quang T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải BKS 34C-051.83 trên Quốc lộ 37B theo hướng xã Hải Hưng đi thị trấn YĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định. Khi đi đến khu vực xóm Tây Lễ, xã HH, huyện HH, T điều khiển xe vượt phương tiện phía trước không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 18Z1-8865 do bà Mai Thị N điều khiển đi cùng chiều khiến bà N tử vong tại chỗ do sốc đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2019, làm chết 01 người. Bị cáo là người có thể chất tinh thần bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự
