TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 126/2023/HSST Ngày 28 - 11 -2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hòa và ông Phùng Văn Thông
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Lê Nhật Quang, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn C, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1986 tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ (đã chết) và bà Phan Thị C1, sinh năm 1949; có vợ là Phùng Thị Thanh T và 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 87/2009/HSPT ngày 27/10/2009 Lê Văn C bị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 30/8/2011, C chấp hành xong toàn bộ bản án. Hiện C đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2023 đến ngày 12/7/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam (Có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Phúc T1, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phùng Thị Thanh T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Người làm chứng: Chị Chu Thị Hồng L, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/7/2023, Lê Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đen xám, biển kiểm soát 88L1- 530.08, số khung 5839JY033824, số máy JF86E2033869 đi từ nhà đến cây xăng Đ ở đường Q thuộc địa phận xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để đổ xăng. Sau đó, C điều khiển xe đi về nhà theo hướng đường tỉnh lộ 306 đi xã Y, huyện V. Khi đi đến đoạn đường bờ kênh 6A thuộc thôn N, xã Y, C phát hiện phía trước bên trái đường theo chiều di chuyển của mình có anh Nguyễn Phúc T1, sinh năm 2002 trú tại xã Y và chị Chu Thị Hồng L, sinh năm 2002 trú tại xã K, huyện V đang ngồi trên yên xe đạp điện dựng ở trên bờ kênh (T1 ngồi phía trước xe, L ngồi phía sau xe). C quan sát thấy T1 đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1 là 357264090717738, số IMEI 2 là 357264090659880, có gắn sim số thuê bao 0971.351.396 ở tay trái nên C nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại di động này nhằm mục đích lấy sử dụng cho bản thân. C điều khiển xe mô tô đi chậm rồi áp sát vị trí của anh T1. Khi đi gần song song với anh T1 thì C dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại anh T1 đang cầm, rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy dọc theo đường bờ kênh ra đường liên xã đi về nhà C ở xã C. Khi bị C cướp giật chiếc điện thoại anh T1 đã tri hô và điều khiển xe đạp điện đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Sau khi bỏ chạy về nhà, C thấy chiếc điện thoại di động này đặt mật khẩu màn hình C không mở được vào bên trong để xem nên C tắt nguồn chiếc điện thoại rồi tháo bỏ chiếc sim số thuê bao 0971.351.396 ra và lắp vào chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A31, màu đen của C để kiểm tra thông tin chủ chiếc sim điện thoại di động này nhưng không phát hiện thông tin gì. Sau đó, C tháo bỏ chiếc sim điện thoại di động này rồi vứt ở dưới cống thoát nước phía trước nhà C. Chiếc điện thoại di động vừa cướp giật được C cho vào túi nilon màu xanh, dùng dây chun màu đen buộc lại và cất giấu bên trong kho để đồ ở đầu đốc nhà C.
Sau khi bị cướp giật mất chiếc điện thoại, ngày 10/7/2023 anh T1 làm đơn trình báo đến Công an xã Y trình bày về toàn bộ nội dung vụ việc. Công an xã Y đã tiến hành tiếp nhận nguồn tin lấy lời khai của bị hại và nhân chứng. Cùng ngày Công an xã Y báo cáo sự việc lên Cơ quan CSĐT - Công an huyện V. Sau khi tiếp nhận nguồn tin cơ quan điều tra đã phối hợp cùng các cơ quan liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định, tiến hành triệu tập làm việc đối với Lê Văn C, quá trình làm việc C đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Ngày 10/7/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 40 khám xét khẩn cấp chỗ ở của C tại thôn K, xã C. Quá trình khám xét đã thu giữ:
- + T2 tại kho để đồ đầu đốc nhà ở của Lê Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone XS Max màu đen dung lượng 256 Gb, không có sim, được bọc trong 01 chiếc túi nilon màu xanh và buộc bằng dây chun màu đen.
- + T2 tại buồng ngủ nhà C 01 chiếc quần cộc màu đen, 01 chiếc áo cộc tay màu đen, có cổ bẻ, viền cổ và viền tay áo màu trắng, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen, 01 đôi dép tông màu trắng đen, 01 chiếc khẩu trang màu trắng, 01 chiếc chìa khoá xe mô tô biển kiểm soát 88L1-530.08.
- + Thu giữ tại sân nhà C 01 chiếc xe mô tô honda vision màu đen xám, biển kiểm soát 88L1-530.08.
- + Thu trên người Công 01 chiếc điện thoại di động Oppo A31 màu đen, có số IMEI 1: 860646045876074, có số IMEI 2: 8606460458760661, có gắn sim số thuê bao là 0334.212.923; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038590 của xe mô tô biển kiểm soát 88L1-530.08 có tên chủ xe là Phùng Thị Thanh T, sinh năm 1986 tại xã Y.
Công khai nhận chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone XS Max màu đen dung lượng 256 Gb, không có sim, được bọc trong 01 chiếc túi nilon màu xanh và buộc bằng dây chun màu đen là tài sản mà C thực hiện hành vi cướp giật tối ngày 09/7/2023 tại xã Y.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường cho Lê Văn C thực nghiệm điều tra chỉ xác định vị trí hiện trường và diễn tả lại toàn bộ hành vi phạm tội của C vào ngày 09/7/2023. Kết quả, C đã chỉ được vị trí thực hiện hành vi phạm tội và diễn tả lại toàn bộ diễn biến, hành vi cướp giật chiếc điện thoại của anh T1. Quá trình thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của C, bị hại và người làm chứng cùng các tài liệu khác.
Ngày 11/7/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V có yêu cầu định giá số 558 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V tiến hành định giá xác định giá trị của tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1 là 357264090717738, số IMEI 2 là 357264090659880 Công cướp giật của anh T1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 64 ngày 18/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: “Tổng giá trị của tài sản nêu trên là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng)”.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1: 357264090717738, IMEI2: 357264090659880.
- - 01 chiếc túi nilon màu xanh và dây chun màu đen.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A31, màu đen, có số IMEI 1: 860646045876074, có số IMEI 2: 860646045876066, có gắn sim số thuê bao là 0334.212.923.
- - 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đen- xám, biển kiểm soát 88L1- 530.08; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038590 của chiếc xe mô tô 88L1- 530.80 tên chủ xe là Phùng Thị Thanh T và 01 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen của chiếc xe mô tô trên.
- - 01 chiếc quần cộc màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, có cổ bẻ, viền cổ và viền tay áo màu trắng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép tông màu trắng- đen; 01 chiếc khẩu trang màu trắng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại chiếc điện thoại và không có đề nghị gì.
Tại Cáo trạng số 123/CT – VKSVT ngày 30 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Nguyễn Phúc T1 có mặt tại phiên tòa trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo về việc cướp giật chiếc điện thoại là đúng. Anh T1 xác nhận Cơ quan điều tra đã trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb cho anh. Sau khi nhận lại tài sản, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Phùng Thị Thanh T có mặt tại phiên tòa trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo liên quan đến chiếc xe mô tô BKS 88L1- 530.08 là đúng. Chị T xác nhận chiếc xe mô tô BKS 88L1- 530.08 được mua trong thời kì hôn nhân với bị cáo C và đứng tên chị T, chị T là người trực tiếp sử dụng xe hằng ngày. Ngày 09/7/2023, chị T nhờ C đi mua xăng. Việc bị cáo C sử dụng chiếc xe mô tô trên để cướp giật tài sản là chiếc điện thoại của anh T1 thì chị hoàn toàn không biết. Chiếc xe là phương tiện duy nhất của gia đình để chị đi lại hằng ngày, đưa đón các con đi học nên chị đề nghị xem xét trả lại chiếc xe trên cho chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, tại đường B thuộc thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Văn C có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 530.08 và dùng tay trái thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1 là 357264090717738, số IMEI 2 là 357264090659880, có gắn sim số thuê bao 0971.351.396 của anh Nguyễn Phúc T1 đang cầm trên tay trái ngồi trên yên xe đạp điện dựng ở dệ đường bờ kênh 6A. Sau đó C điều khiển xe mô tô nêu trên phóng nhanh để tẩu thoát và đi về nhà, anh T1 đã tri hô và điều khiển xe đạp điện để đuổi theo nhưng không kịp. Chiếc điện thoại C cướp giật được có giá trị là 7.000.000 đồng.
Hành vi của Lê Văn C đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;”
[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Năm 2009 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà bất chấp quy định của pháp luật cướp giật chiếc điện thoại của người khác với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, tại phiên tòa bị hại là anh Nguyễn Phúc T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là Lê Xuân Đ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu đen, dung lượng 256Gb, có số IMEI 1: 357264090717738, IMEI 2: 357264090659880 do Cơ quan điều tra thu giữ được. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Phúc T1 bị C cướp giật. Ngày 27/8/2023 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 67 trả lại chiếc điện thoại này cho anh Nguyễn Phúc T1 theo quy định pháp luật là phù hợp. Anh T1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
- - Đối với 01 chiếc túi nilon màu xanh và dây chun màu đen, quá trình điều tra xác định những tài sản này do C lấy trong bếp nhà mình để đựng chiếc điện thoại mà C cướp giật được vào ngày 09/7/2023, hiện những tài sản này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A31, màu đen, có số IMEI 1: 860646045876074, có số IMEI 2: 860646045876066, có gắn sim số thuê bao là 0334.212.923 thu giữ của bị can Lê Văn C. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản hợp pháp của bị cáo C và không liên quan gì đến hành vi cướp giật tài sản ngày 09/7/2023 nên cần trả lại cho bị cáo C nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đen-xám, biển kiểm soát 88L1- 530.08; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038590 của chiếc xe mô tô 88L1- 530.80 mang tên Phùng Thị Thanh T và 01 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen của chiếc xe mô tô trên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bị cáo C và chị T. Ngày 09/7/2023 bị cáo C sử dụng chiếc xe là phương tiện và có hành vi cướp giật chiếc điện thoại của anh T1, hành vi của bị cáo chỉ mang tính chất bộc phát, không phải lên kế hoạch chuẩn bị từ trước và chị T hoàn toàn không biết. Chiếc xe mô tô này là phương tiện duy nhất phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, lao động hàng ngày, đưa đón các con của bị cáo và chị T đi học hàng ngày, nếu tịch thu thì gia đình bị cáo sẽ không có phương tiện nào khác dẫn đến cuộc sống sinh hoạt, mưu sinh và đưa đón các con đi học hàng ngày sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, cần trả lại chiếc xe trên cho chị Phùng Thị Thanh T là phù hợp.
- - Đối với 01 chiếc quần cộc màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, có cổ bẻ, viền cổ và viền tay áo màu trắng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép tông màu trắng- đen; 01 chiếc khẩu trang màu trắng tạm giữ của bị cáo Lê Văn C. Quá trình điều tra xác định những tài sản nêu trên là trang phục của Công mặc, sử dụng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 09/7/2023. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Lê Văn C, C không đề nghị nhận lại các tài sản này, do không có giá trị sử dụng nên cần tịch tiêu huỷ.
- - Đối với 01 thẻ sim điện thoại di động mang số thuê bao 0971.351.396 được gắn bên trong chiếc điện thoại của anh T1 bị C cướp giật vào ngày 09/7/2023. Quá trình điều tra, Công khai nhận sau khi kiểm tra thông tin số thuê bao xong thì C ném xuống cống thoát nước trước cổng của gia đình Công, đến nay Cơ quan điều tra chưa thu giữ được. Quá trình điều tra anh Nguyễn Phúc T1 trình bày anh tự đi làm lại sim và không đề nghị gì về việc này. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 10/7/2023).
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc túi nilon màu xanh và 01 dây chun màu đen, 01 chiếc quần cộc màu đen; 01 chiếc áo cộc tay màu đen, có cổ bẻ, viền cổ và viền tay áo màu trắng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép tông màu trắng- đen; 01 chiếc khẩu trang màu trắng.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A31, màu đen, có số IMEI 1: 860646045876074, có số IMEI 2: 860646045876066, có gắn sim số thuê bao là 0334.212.923 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho chị Phùng Thị Thanh T: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đen- xám, biển kiểm soát 88L1- 530.08, không có gương; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038590 của chiếc xe mô tô 88L1- 530.80 mang tên Phùng Thị Thanh T và 01 chiếc chìa khóa xe mô tô màu đen của chiếc xe mô tô 88L1- 530.80.
(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường ngày 10/9/2023).
Về án phí: Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Văn Tuấn |
Bản án số 126/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 126/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cướp giật tài sản
