Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn S, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1991 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn P và bà Vũ Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024, đến ngày 12/6/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Minh T1, sinh 1996; nơi ĐKHKTT: Tổ D khu D phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số D đường Đ, tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Văn Q, sinh 1971; nơi cư trú: Số C đường N, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên Vũ Văn S đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T1, sinh 1996; nơi ĐKHKTT: Tổ 41 Khu D, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số D đường Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (là bạn gái của S), cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 13/4/2024, S đến nhà chị T1 tại số D đường Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc chị T1 đang nấu cơm dưới tầng 1, S đi lên tầng 2 và vào phòng ngủ của chị T1, mở két sắt (két không khóa) lấy trộm 01 vỉ vàng thần tài 03 miếng (gồm 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “L”, 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “T2”, miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “Quý”, HLV 99,99%) và 01 chiếc vòng dây trang sức (loại dây kim tiền) sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt Charm (gồm 01 hạt Charm túi tiền bằng vàng, khối lượng 0,32 chỉ; 01 hạt Charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,24 chỉ; 01 hạt Charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,254 chỉ), rồi lần lượt cất giấu ở trong cạp quần và trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Tiếp đó, S đi xuống tầng 1 và sinh hoạt bình thường với chị T1 đến chiều ngày hôm sau, S bắt xe khách từ Hải Phòng về Hải Dương. Ba ngày sau, vào trưa ngày 16/4/2024, S mang bán chiếc vòng dây trang sức sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt charm của chị T1 cho một cửa hàng vàng trên địa bàn thành phố H (S không nhớ địa chỉ) với giá 6.300.000 đồng. Tiếp đó, ngày 20/4/2024, S mang bán vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng của chị T1 cho cửa hàng V1 (địa chỉ: Số C N, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng) với giá 21.260.000 đồng. Tại cửa hàng V1, do không đủ tiền mặt nên chủ cửa hàng là anh Vũ Văn Q, sinh 1971, trú tại: Số C N, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng đã đưa 6.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản số tiền 15.260.000 đồng từ số tài khoản 8882688888888 mở tại Ngân hàng Q1 mang tên Vũ Văn Q đến số tài khoản 3280822691 mở tại Ngân hàng TMCP Đ mang tên Vũ Văn S cho S. Toàn bộ số tiền 21.560.000 đồng từ hai lần bán tài sản trên S đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 8 giờ ngày 02/6/2024, S đến nhà chị T1 tại số D đường Đ, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng chơi. Lợi dụng lúc chị T1 đang ngồi chơi điện thoại ở tầng 1, S đi lên tầng 2 và vào phòng ngủ của chị T1, mở két sắt (két không khóa) lấy trộm 01 vòng tay kim loại màu trắng có gắn nhiều viên đá không màu và 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 03 viên đá không màu giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi xuống tầng 1. Cùng ngày, do thấy S thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên chị T1 đã đưa cho S 01 thẻ Ngân hàng TMCP Đ (B) số [...] 3621131 mang tên NGUYEN THI MINH TAM, trong thẻ có 2.059.693 đồng và cung cấp mật khẩu cho S để S tự đi rút tiền. S nhận thẻ và bắt xe khách từ Hải Phòng về Hải Dương. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, chị T1 đi lên phòng ngủ tầng 2, mở két sắt để cất sổ hộ chiếu thì phát hiện bị mất: 01 chiếc vòng dây trang sức sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt charm; 01 vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng; 01 vòng tay kim loại màu trắng; 01 nhẫn kim loại màu vàng. Chị T1 nghi ngờ S lấy nên đã liên lạc và yêu cầu S trả lại tài sản nhưng S không thừa nhận đã lấy trộm tài sản của chị T1.

Tuy nhiên do lo sợ chị T1 sẽ báo công an nên ngày 03/6/2024, S đã bắt xe khách từ Hải Dương về Hải Phòng để mang tài sản đã trộm cắp trả cho chị T1. Khoảng 11 giờ 19 phút cùng ngày, khi đi qua cây rút tiền trên đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, S đã dùng thẻ Ngân hàng mà chị T1 đưa cho trước đó rút số tiền 2.000.000 đồng rồi mới đến nhà chị T1 và nhét qua khe cửa cuốn 01 vòng tay kim loại màu trắng có gắn nhiều viên đá không màu; 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 03 viên đá không màu và 01 thẻ Ngân hàng TMCP Đ (B) mang tên NGUYEN THI MINH TAM. Sau đó, S bỏ đi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, chị T1 đi làm về thì phát hiện thấy số tài sản trên tại chân cửa nhà mình. Thông qua hệ thống camera, chị T1 phát hiện hình ảnh 01 người đàn ông mặc áo chống nắng hoạ tiết caro màu trắng đen, đội mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen đi bộ từ ngoài ngõ vào khu vực nhà chị T1 và nhét tài sản vào khe cửa nên chị T1 đã đến Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng trình báo. Đến 23 giờ 45 phút cùng ngày, Vũ Văn S ra đầu thú.

Tại Kết luận giám định số 4212/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của V2 Bộ C kết luận: 01 vòng tay kim loại màu trắng có gắn nhiều viên đá không màu gửi giám định có tổng khối lượng 10 gam (tính cả các viên đá), trong đó: Phần kim loại là hợp kim vàng (A), đồng (Cu), kẽm (Z), niken (Ni); hàm lượng Au 58,65%. Các viên đá gắn trên vòng đeo tay đều là kim cương tự nhiên. 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 03 viên đá không màu gửi giám định có tổng khối lượng 2,28 gam ( tính cả các viên đá), trong đó: Phần kim loại là hợp kim vàng (A), bạc (A), đồng (Cu); hàm lượng Au 62,87%, Ag 16,48%. 03 viên đá gắn trên nhẫn đều là đá CZ.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 01 vòng tay kim loại màu trắng có gắn nhiều viên đá không màu trị giá 47.500.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 03 viên đá không màu trị giá 3.150.000 đồng. Tổng trị giá tại thời điểm tháng 6/2024 là 50.650.000 đồng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 01 vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng (01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “L”, 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “T2”, miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “Quý”, HLV 99,99%) trị giá 21.080.000 đồng; 01 chiếc vòng dây trang sức (loại dây kim tiền) sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt charm (01 hạt charm túi tiền bằng vàng, khối lượng 0,32 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,24 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,254 chỉ) trị giá 6.260.000 đồng. Tổng trị giá tại thời điểm tháng 4/2024 là 27.340.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn S khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên và khai số tiền 2.000.000 đồng mà S đã rút từ thẻ Ngân hàng của chị T1 vào ngày 03/6/2024 là tiền mà chị T1 cho S để chi tiêu cá nhân. Sau khi rút tiền, S đã dùng 300.000 đồng để sinh hoạt, còn 1.700.000 đồng S tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an.

Về vật chứng: Số tiền 1.700.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen; 01 mũ lưỡi chai bằng vải màu be; 01 áo chống nắng hoạ tiết caro màu trắng đen; 01 khẩu trang màu trắng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An quản lý.

Đối với 01 lắc tay bằng vàng trắng, bên trên có đính nhiều viên kim cương; 01 nhẫn vàng bên trên có đính 03 viên kim cương; 01 chứng thư kiểm định kim cương số M027594 của V3, vàng và trang sức V; 01 thẻ Ngân hàng TMCP Đ (B) số 9704 1800 0001 3621131 mang tên NGUYEN THI MINH TAM, ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Minh T1.

Đối với 01 vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng (01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “L”, 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “T2”, miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “Quý”, HLV 99,99%) và 01 chiếc vòng dây trang sức (loại dây kim tiền) sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt charm (01 hạt charm túi tiền bằng vàng, khối lượng 0,32 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,24 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,254 chỉ) mà S đã trộm cắp vào ngày 13/4/2024, hiện không thu hồi được nên không có căn cứ xử lý đối với các vật chứng này.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Minh T1 đã nhận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và không còn yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Vũ Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn S khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Văn S về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Vũ Văn S từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo S.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng giấy dán kín niêm phong bên trong 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen; 01 mũ lưỡi chai bằng vải màu be; 01 áo chống nắng hoạ tiết caro màu trắng đen; 01 khẩu trang màu trắng thu giữ của Vũ Văn S. Trả lại cho bị cáo S số tiền 1.700.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

[1] Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[3] Vào các ngày 13/4/2024 và 02/6/2024, tại số D đường Đ, tổ A, phường Đ, quận H, Hải Phòng, Vũ Văn S đã lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá là 77.990.000 đồng của chị Nguyễn Thị Minh T1, bao gồm: 01 vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng (01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “L”, 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “T2”, miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “Quý”, HLV 99,99%) trị giá 21.080.000 đồng; 01 chiếc vòng dây trang sức (loại dây kim tiền) sợi bằng chỉ vải màu đen, bên trên có gắn 03 hạt charm (01 hạt charm túi tiền bằng vàng, khối lượng 0,32 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,24 chỉ; 01 hạt charm hoa bằng vàng, khối lượng 0,254 chỉ) trị giá 6.260.000 đồng; 01 vòng tay kim loại màu trắng có gắn nhiều viên đá không màu trị giá 47.500.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng có gắn 03 viên đá không màu trị giá 3.150.000 đồng.

[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn S phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Trong thời gian ngắn liên tiếp chiếm đoạt tài sản với giá trị lớn, nên cần áp dụng mức hình phạt khiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo Vũ Văn S trộm cắp hai lần vào các ngày 13/4/2024 và 02/6/2024, tại số D đường Đ, tổ A, phường Đ, quận H, Hải Phòng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung:

[8] Bị cáo Vũ Văn S không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[9] Chị Nguyễn Thị Minh T1 đã nhận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng từ gia đình bị cáo và không còn yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Đối với 01 thùng giấy dán kín niêm phong bên trong 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen; 01 mũ lưỡi chai bằng vải màu be; 01 áo chống nắng hoạ tiết caro màu trắng đen; 01 khẩu trang màu trắng thu giữ của Vũ Văn S. Đây là những vật dụng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[11] Đối với số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của Vũ Văn S. Đây là tiền chị T1 cho S không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo S nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[12] Đối với Vũ Văn Q không biết 01 vỉ vàng thần tài gồm 03 miếng (01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “L”, 01 miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “T2”, miếng vàng PNJ 01 chỉ có chữ “Quý”, HLV 99,99%) mà S đã bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[13] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Vũ Văn S 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ cho bị cáo 08 ngày tạm giữ trước đó (từ ngày 04/6/2024 đến ngày 12/6/2024).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy dán kín niêm phong bên trong 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen; 01 mũ lưỡi chai bằng vải màu be; 01 áo chống nắng hoạ tiết caro màu trắng đen; 01 khẩu trang màu trắng thu giữ của Vũ Văn S.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Trả lại cho bị cáo S số tiền 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên lai thu tiền số 0004825 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười năm), kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Công an quận Hải An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: S - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger