Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực
  • Các Hội thẩm nhân dân:
  • - Ông Đặng Trần Khoa.
  • . Bà Nguyễn Thị Hoa.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thành T; sinh năm 1986 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: 4 H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Phan Thị H- sinh năm 1964; tiền án: 01- Bản án số 56/2021/HS-ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2021; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 03/2009/HSST ngày 19/01/2009 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2011. Bản án số 288/2013/HSST ngày 10/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2014. Bản án số 191/2015/HSST ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2017; bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/01/2024. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Trần Tú A- sinh năm 1997; địa chỉ: B đường A khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Trần Anh T1- sinh năm 1994; địa chỉ: S đường E khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Huỳnh Thị Thanh T2- sinh năm 1989; địa chỉ: S đường số B khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Người làm chứng: Ngô Đức H1- sinh năm 1984; địa chỉ: B đường A khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phan Thành T là người nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng, từ ngày 25/10/2023 đến ngày 17/01/2024, T đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại khu vực phường P, thành phố N, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 25/10/2023, Phan Thành T đi bộ đến trước căn nhà số B đường A khu đô thị L, phường P, thành phố N, thấy trong nhà tắt đèn nên T leo lên đột nhập vào trong nhà lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Lenovo màu xám bạc và số tiền 230.000 đồng của chị Trần Tú A. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên, T thuê xe thồ chở đến khu vực công viên B, phường V, thành phố N bán máy tính cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) được 800.000 đồng, T dùng số tiền này mua ma túy sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Lenovo Ideapad 5 15ITL05 i5 màu xám, dung lượng 512GB, mua mới tháng 5/2022 có giá trị 14.392.800 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 28/10/2023, Phan Thành T đi bộ đến trước căn nhà S đường E khu đô thị L, phường P, thành phố N, thấy trong nhà tắt đèn nên T leo tường đột nhập vào trong nhà lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air 2020 M1-13inchs màu gold dung lượng 256GB, 01 đồng hồ dây da màu xanh đen, 01 điện thoại di động Samsung màu xám và số tiền 1.000.000 đồng của anh Trần Anh T1. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên, T thuê xe thồ chở đến khu vực lầu G, phường V, thành phố N bán cho người đàn ông tên “T3” (không rõ lai lịch) được 4.400.000 đồng, T dùng số tiền này mua ma túy sử dụng. Trong quá trình điều tra, T tìm “T3” chuộc lại được máy tính M và giao nộp cho cơ quan Công an.

Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Apple Macbook Air 2020 M1-13inchs, màu gold, dung lượng 256GB, mua mới vào ngày 05/02/2021 có giá trị 12.454.530 đồng. Đối với 01 đồng hồ dây da màu xanh đen, 01 điện thoại di động Samsung màu xám do không đủ thông tin nên Hội đồng định giá tài sản không định giá được.

Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ ngày 17/01/2024, Phan Thành T đi bộ đến trước căn nhà S đường số B khu đô thị L, phường P, thành phố N, phát hiện có lỗ thông gió nhà vệ sinh ở tầng 1 nên T chui vào lỗ thông gió rồi đột nhập vào bên trong nhà, lấy trộm 01 đồng hồ đeo tay hiệu Kidcare và số tiền 3.800.000 đồng của chị Huỳnh Thị Thanh T2. Lúc này chị T2 thức dậy, phát hiện T ở trong nhà nên truy hô nhưng T bỏ chạy thoát.

Kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- U kết luận: 01 đồng hồ đeo tay trẻ em hiệu Kidcare S6 4G màu trắng hồng, mua mới tháng 12/2023 có giá trị 1.950.200 đồng.

Vật chứng, đồ vật thu giữ:

  • - 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air màu vàng đã trả cho chủ sở hữu Trần Anh T1.
  • - 01 đồng hồ đeo tay hiệu K và số tiền 2.000.000 đồng đã trả cho chủ sở hữu Huỳnh Thị Thanh T2.

Phần dân sự: Trần Tú A yêu cầu Phan Thành T bồi thường 20.000.000 đồng; Trần Anh T1 yêu cầu bồi thường 50.000.000 đồng; Huỳnh Thị Thanh T2 không yêu cầu bồi thường.

Bản Cáo trạng số 126/CT-VKSNT ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xét xử Phan Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt Phan Thành T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, các bị hại, người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, Phan Thành T khai nhận vào các ngày 25/10/2023, 28/10/2023 và 17/01/2024, T đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn phường P, thành phố N, cụ thể: Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 25/10/2023, T vào nhà số B đường A khu đô thị L, phường P, thành phố N, trộm 01 máy tính xách tay hiệu Lenovo màu xám bạc có giá trị 14.392.800 đồng và 230.000 đồng tiền mặt của chị Trần Tú A. Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 28/10/2023, T vào nhà S đường E khu đô thị L, phường P, thành phố N, trộm 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air 2020 M1-13inchs có giá trị 12.454.530 đồng, 01 đồng hồ dây da màu xanh đen, 01 điện thoại di động Samsung màu xám và 1.000.000 đồng tiền mặt của anh Trần Anh T1. Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ ngày 17/01/2024, T vào nhà S đường số B khu đô thị L, phường P, thành phố N, trộm 01 đồng hồ đeo tay hiệu Kidcare S6 4G có giá trị 1.950.200 đồng và 3.800.000 đồng tiền mặt của chị Huỳnh Thị Thanh T2. Tổng tài sản Phan Thành T trộm cắp có giá trị 33.827.530 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản làm việc, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 126/CT-VKSNT ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố Phan Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Trong thời gian ngắn, bị cáo thực hiện 03 vụ trộm cắp, giá trị tài sản trộm cắp mỗi vụ đều trên 02 triệu đồng nên áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Phan Thành T. Bị cáo là người đang có tiền án: Bản án số 56/2021/HS-ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2021 nên chưa được xóa án tích; do đó bị cáo T phạm tội lần này là tái phạm. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, bị kết án nhiều lần về tội chiếm đoạt tài sản của người khác và tội khác quy định tại Bộ luật Hình sự, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Đối với các đối tượng mua máy tính xách tay, đồng hồ do T trộm cắp mà có hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị cáo trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu hiệu Lenovo màu xám bạc trị giá 14.392.800 đồng và 230.000 đồng tiền mặt của chị Trần Tú A. Tại phiên tòa, chị Tú A vắng mặt nhưng có lời khai yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Tú A. Đây là sự thỏa thuận của hai bên nên ghi nhận: Buộc bị cáo Phan Thành T bồi thường cho chị Trần Tú A 20.000.000 đồng.
  • - Bị cáo trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air 2020 M1-13inchs màu gold dung lượng 256GB có giá trị 12.454.530 đồng, 01 đồng hồ dây da màu xanh đen, 01 điện thoại di động Samsung màu xám và 1.000.000 đồng tiền mặt của anh Trần Anh T1. Tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt nhưng có lời khai yêu cầu bị cáo bồi thường 50.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường cho anh T1. Đây là sự thỏa thuận của hai bên nên ghi nhận: Buộc bị cáo Phan Thành T bồi thường cho anh Trần Anh T1 50.000.000 đồng.
  • - Bị cáo trộm cắp 01 đồng hồ đeo tay hiệu Kid Care có giá trị 1.950.200 đồng và 3.800.000 đồng tiền mặt của chị Huỳnh Thị Thanh T2. Tại phiên tòa, chị T2 vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại đồng hồ đeo tay và 2.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thành T.
  • Xử phạt bị cáo Phan Thành T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/01/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
  • + Không xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị hại Huỳnh Thị Thanh T2 đối với bị cáo.
  • + Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc:
  • Bị cáo Phan Thành T bồi thường cho chị Trần Tú A 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng); bồi thường cho anh Trần Anh T1 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
  • Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án khoản tiền trên thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Phan Thành T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); và án phí dân sự sơ thẩm là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

THẨM

  • . Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • TÒA
  • . Viện kiểm sát nhân dân Tp. Nha Trang;
  • . Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • . Công an Tp. Nha Trang; Cơ quan thi hành án hình sự;
  • . Sở Tư pháp Khánh Hòa; Thi hành án dân sự Tp . Nha Trang;
  • . Bị cáo, đương sự;
  • . Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN

Nguyễn Trọng Rực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thành T Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger