|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 4 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Thanh Nhàn
- Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1993
- Bị đơn: Anh Huỳnh Hữu H, sinh năm 1991
Đăng ký thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Số E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H do mai mối nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Giấy chứng nhận kết hôn số 160/2011, ngày 30/8/2011). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của cha mẹ anh H thuộc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có hành vi tham gia đánh bạc gây nợ nần, chị L có khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi tính tình; thường xuyên ghen tuông vô cớ và có lời lẽ khiếm nhã xúc phạm đến chị L nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi. Đỉnh điểm phát sinh mâu thuẫn vào tháng 10/2023 và vợ chồng sống ly thân từ đầu tháng 12/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, hai bên gia đình có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H nhưng không được; bản thân chị L có cho anh H nhiều lần cơ hội nhưng anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng không hàn gắn được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung tên Huỳnh Thị Tuyết L1, sinh ngày 26/8/2014, hiện nay con chung đang sống với chị L. Năm 2015, do cháu Huỳnh Thị Tuyết L1 bị té xe làm chấn thương dây thần kinh nên hiện nay cháu L1 gặp khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Tuyết L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh Huỳnh Hữu H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.
Anh Huỳnh Hữu H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Nguyễn Thị Tuyết L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Huỳnh Hữu H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết L. Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Tuyết L được ly hôn với anh Huỳnh Hữu H. Chị Nguyễn Thị Tuyết L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Tuyết L1, sinh ngày 26/8/2014; anh Huỳnh Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Huỳnh Hữu H có nơi cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 28/02/2024, anh Huỳnh Hữu H vẫn còn cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Huỳnh Hữu H tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Chị Nguyễn Thị Tuyết L khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Huỳnh Hữu H, yêu câu được tiếp tục chăm, sóc nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Huỳnh Hữu H (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Đối với anh Huỳnh Hữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Tuyết L đề nghị xét xử vắng mặt; anh Huỳnh Hữu H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Tuyết L và anh Huỳnh Hữu H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Tuyết L cho rằng, chị L và anh H do mai mối nên tiến đến hôn nhân vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có hành vi tham gia đánh bạc gây nợ nần, thường xuyên ghen tuông vô cớ và có lời lẽ khiếm nhã xúc phạm đến chị L. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng từ tháng 10/2023 do anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H nhưng do anh H không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H.
Anh Huỳnh Hữu H đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
Xét thấy, chị Nguyễn Thị Tuyết L và anh Huỳnh Hữu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Huỳnh Hữu H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị L theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Huỳnh Hữu H không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H nên lời trình bày của chị L về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị L yêu cầu ly hôn anh H phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Đối với con chung:
Chị Nguyễn Thị Tuyết L xác định chị L và anh H có 01 con chung tên Huỳnh Thị Tuyết L1, sinh ngày 26/8/2014, hiện nay đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị L và anh H ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị L, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Huỳnh Thị Tuyết L1 sinh sống với chị L cho đến nay nên tình cảm của cháu L1 đã gắn liền với người nuôi dưỡng; đồng thời, cháu L1 là gái, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bị tai nạn; quá trình sinh sống với chị L, cháu L1 vẫn được chăm sóc, phát triển tốt. Để ổn định cuộc sống cho cháu L1, giúp cháu L1 phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị L và anh H ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị L và anh H ly hôn nên anh Huỳnh Hữu H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Tuyết L không yêu cầu anh Huỳnh Hữu H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết L được ly hôn anh Huỳnh Hữu H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 160/2011, ngày 30/8/2011 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Tuyết L và anh Huỳnh Hữu H không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Tuyết L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Tuyết L1, sinh ngày 26/8/2014. Hiện nay đang sống với chị Nguyễn Thị Tuyết L.
Anh Huỳnh Hữu H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Nguyễn Thị Tuyết L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Huỳnh Hữu H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0014953 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |
Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L và anh H do mai mối nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Giấy chứng nhận kết hôn số 160/2011, ngày 30/8/2011). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của cha mẹ anh H thuộc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có hành vi tham gia đánh bạc gây nợ nần, chị L có khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi tính tình; thường xuyên ghen tuông vô cớ và có lời lẽ khiếm nhã xúc phạm đến chị L nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi. Đỉnh điểm phát sinh mâu thuẫn vào tháng 10/2023 và vợ chồng sống ly thân từ đầu tháng 12/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, hai bên gia đình có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H nhưng không được; bản thân chị L có cho anh H nhiều lần cơ hội nhưng anh H không thay đổi tính tình nên vợ chồng không hàn gắn được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh H
