Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-9-2024

V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai, bà Nguyễn Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (có đơn vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1981; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn H chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2000 trên cơ sở tự do tìm hiểu nhưng không đăng ký kết hôn. Có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống với nhau tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau nên chị và anh H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ giữa chị và anh Hoàng Văn H là vợ chồng.

- Về con chung: Chị và anh H có 01 con nuôi là Hoàng Nguyễn Bảo N, sinh ngày 04/12/2016. Ly hôn, chị đề nghị giải quyết giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Nguyễn Bảo N. Về cấp dưỡng, chị và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn anh Hoàng Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về điều kiện, thời gian vợ chồng chung sống và không đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay không còn tình cảm gì nên anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con nuôi là Hoàng Nguyễn Bảo N, sinh ngày 04/12/2016. Ly hôn, anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Nguyễn Bảo N. Về cấp dưỡng, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Hoàng Nguyễn Bảo N trình bày: Cháu là con của bố H mẹ T. Bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại Biên bản xác minh ngày 16/8/2024, bà Nguyễn Thị T1 - Công chức Tư pháp hộ tịch xã T cung cấp: Ủy ban nhân dân xã T lưu sổ theo dõi việc đăng ký kết hôn từ năm 2005 đến nay, còn từ năm 2005 trở về trước không còn sổ sách gì. Từ năm 2005 đến nay không có thông tin đăng ký kết hôn của chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn H tại Ủy ban nhân dân xã T.

Tại phiên tòa ngày 13/9/2024, anh Hoàng Văn H vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và thông báo ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 23/9/2024.

Tại phiên tòa ngày 23/9/2024, anh Hoàng Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng; tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; bị đơn chấp hành chưa đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Nguyễn Bảo N, sinh ngày 04/12/2016. Việc cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét do các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị T anh H không đề nghị giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị giải quyết không công nhận chị và anh Hoàng Văn H là vợ chồng nên căn cứ vào khoản 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Hoàng Văn H là bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay chị T và anh H đều cho rằng giữa hai người không còn tình cảm, không thể đoàn tụ được và đều đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng. Do vậy cần căn cứ các Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn H.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh H đều thống nhất đề nghị Tòa án giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu N cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.

[2.3] Về tài sản riêng, chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn H là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Nguyễn Bảo N, sinh ngày 04/12/2016 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Anh Hoàng Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006276 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Lưu HS, VT.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger