TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày: 23 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng, Bà Bùi Thị Hoa, bà Hoàng Thị Hường.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 20/11/1963; tên gọi khác: không; nơi thường trú và chỗ ở: xóm A (nay là xóm H) xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: lao động tự do. CMND số: [...], Công an N cấp ngày 03/05/2000. Đảng viên Đ2 từ ngày 12/8/1982. Bị xử lý kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng ngày 04/09/2014; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L (Đã chết), con bà Hoàng Thị B (Đã chết). Anh chị (em) ruột có 5 người, bị cáo là con thứ nhất của gia đình; vợ: Võ Thị H, sinh năm 1969; nghề nghiệp: lao động tự do, hiện trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Con: 02 con, lớn sinh năm 1989; nhỏ sinh năm 1991. Tiền sự, tiền án: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam (theo Quyết định truy nã số 02/PC46 ngày 02/12/2014 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) từ ngày 21/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T: Ông Trần Thanh T1 – Văn phòng Luật sư Vương Duy T2 – Đoàn Luật sư tỉnh N.(có mặt)
1
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ H, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Bị hại: Ông Trần Đức H1 chủ Doanh Nghiệp tư nhân T4 (Ngày 27/5/2013 đã giải thể, ngừng hoạt động)
Địa chỉ: khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức T công tác và giữ chức vụ Chủ tịch Hội nông dân xã N, huyện N từ ngày 06/11/2006 đến ngày 29/5/2012 theo Quyết định số 31/QĐ-HND ngày 06/11/2006 và Quyết định số 26/QĐ-HND ngày 12/6/2007 của Ban thường vụ Hội nông dân huyện N. Là người trực tiếp điều hành, chỉ đạo xây dựng Quy chế hoạt động của Ban chấp hành, Ban thường vụ, Chương trình, Kế hoạch công tác Hội nông dân xã N, hướng dẫn hoạt động đối với các Chi hội ở thôn, xóm; Chỉ đạo việc lập kế hoạch kinh phí, chấp hành, quyết toán kinh phí hoạt động; định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá và báo cáo với cấp ủy Đảng và Hội nông dân cấp trên; Trực tiếp chỉ đạo, điều hành hoạt động cung ứng phân bón trả chậm cho nông dân phục vụ sản xuất vụ mùa.
Chủ trương, quy trình thực hiện việc mua phân bón trả chậm phục vụ sản xuất của Hội nông dân xã N trong sản xuất vụ Đ - Xuân năm 2011 – 2012.
Từ năm 2010, Căn cứ quy định của Điều lệ Hội N1 và các văn bản hướng dẫn thi hành về việc Hội nông dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã được tiến hành các hoạt động dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất. Hội nông dân huyện N và Hội nông dân các xã thuộc huyện N đã triển khai việc ký các Hợp đồng kinh tế mua phân bón của các đơn vị cung ứng theo hình thúc trả chậm (cung ứng cho nông dân phục vụ sản xuất vụ mùa, sau khi thu hoạch mới thu tiền của các hộ dân trả cho đơn vị cung ứng) để hỗ trợ nông dân sản xuất. Hội nông dân các xã sau khi tổng hợp chủng loại, số lượng phân bón nông dân trong xã đăng ký mua bằng hình thức trả chậm có thể lựa chọn hình thức trực tiếp ký hợp đồng kinh tế về việc mua phân bón trả chậm với các đơn vị cung ứng phân bón hoặc ký hợp đồng với Hội nông dân huyện, sau đó Hội nông dân huyện ký hợp đồng kinh tế mua phân bón với đơn vị cung ứng và giao phân bón cho Hội nông dân các xã.
Việc triển khai thực hiện của Hội nông dân xã N: Ngày 15/11/2011, Doanh nghiệp tư nhân T4 (là đơn vị cung cấp phân bón) đã có thông báo gửi Hội nông dân huyện N về việc triển khai cung ứng phân bón Lâm Thao cho nông dân sản xuất vụ Đông xuân năm 2011-2012. Ngày 28/11/2011, Hội nông dân huyện đã có thông báo số 15 gửi Hội nông dân các xã về việc triển khai cung
2
ứng phân bón và đề nghị các xã tập hợp, đăng ký số lượng về Hội nông dân huyện. Ngày 15/12/2011, Hội nông dân xã N đã đăng ký mua 110 tấn phân Lân và 25 tấn NPK nhưng chưa tổ chức thực hiện.
- Về tư cách pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân T4:
Doanh nghiệp tư nhân T4 (sau đây gọi tắt là T4) có trụ sở tại địa chỉ: số E, đường T, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An, được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tư nhân số 2900815344 lần đầu ngày 24/8/2007, đăng ký thay đổi lần 01 ngày 15/3/2011. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là vận tải hàng hoá bằng đường bộ, buôn bán phân bón....Chủ doanh nghiệp là ông Trần Đức V (sinh năm 1944, HKTT: phường H, TP V, tỉnh Nghệ An). Do tuổi cao, sức yếu, ngày 05/10/2009, ông Trần Đức V đã làm giấy uỷ quyền cho con trai là Trần Đức H1 (sinh năm 1978, HKTT: phường H, TP V, tỉnh Nghệ An) điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hoạt động của T4. Do kinh doanh không hiệu quả, ngày 27/5/2013, T4 đã giải thể, ngừng hoạt động.
- Hành vi “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” trong quá trình công tác tại Hội nông dân xã N, huyện N của bị can Nguyễn Đức T.
Ngày 28/12/2011, Hội nông dân huyện N làm việc với Hội nông dân xã N và kết luận về việc chưa tổ chức triển khai việc cung ứng phân bón trả chậm cho nhân dân sản xuất tại xã N trong vụ Đông Xuân 2011 - 2012 và giao việc thực hiện cung ứng phân bón này cho ông Nguyễn Văn Q (Phó Chủ tịch Hội nông dân xã N thời điểm đó), không giao cho Nguyễn Đức T (Chủ tịch hội nông dân xã N). Tuy nhiên, do muốn có tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân, Nguyễn Đức T đã lấy danh nghĩa Chủ tịch hội nông dân xã N để liên hệ, trao đổi với ông Trần Đức H1 (người đại diện theo uỷ quyền của T4) về việc đại diện hội nông dân xã đứng ra ký kết hợp đồng mua phân bón. Do vậy vào ngày 25/12/2011 và ngày 28/12/2011, T4 đã cho Nguyễn Đức T ứng trước 45 tấn Lân và 5,75 tấn NPK. Đến ngày 30/12/2011, T4 và Nguyễn Đức T đã ký hợp đồng số 01/HĐ-MBPB về việc cung ứng phân bón trả chậm cho xã N. Mục đích mua phân bón được thể hiện rõ trong Hợp đồng là để cung ứng cho nông dân xã N phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2011-2012, cụ thể như sau:
| TT | Tên sản phẩm | Số lượng | Giá bán (đồng) | Số tiền phải thanh toán |
|---|---|---|---|---|
| 1 | NPK 5.10.3 | 160,75 | 5.233.000 | 841.204.750 đồng |
| 2 | 64 | 64 | 3.548.370 | 227.095.680 đồng |
| Cộng | 224,75 | 1.068.300.430 đồng | ||
Theo Hợp đồng đã ký, từ ngày 25/12/2011 đến ngày 14/02/2012, T4 đã chuyển hết 224,75 tấn phân bón cho ông Nguyễn Đức T đặt mua trong Hợp đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 25/12/2011, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 45 tấn L1, tương đương với số tiền là 157.000.000 đồng.
3
- Ngày 28/12/2011, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 5,75 tấn NPK, tương đương với số tiền là 29.589.000 đồng.
- Ngày 30/12/2011, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 65 tấn NPK, tương đương với số tiền là 334.490.000 đồng.
- Ngày 15/01/2012, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 19 tấn L1, tương đương với số tiền là 70.091.000 đồng.
- Ngày 16/01/2012, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 20 tấn NPK, tương đương với số tiền là 102.920.000 đồng.
- Ngày 14/2/2012, T4 đã giao cho ông Nguyễn Đức T 70 tấn NPK, tương đương với số tiền là 374.220.000 đồng.
Toàn bộ số lượng phân bón được vận chuyển đến phòng kho của Quỹ tín dụng xã N đặt gần trụ sở UBND xã N.
Ngày 20/02/2012, T4 và Nguyễn Đức T đã cùng nhau thống nhất làm bản đối chiếu công nợ, qua đó Nguyễn Đức T xác nhận đã nhận đủ 224,75 tấn phân bón của T4, cam kết chậm nhất là ngày 30/6/2012 sẽ trả số tiền 1.068.000.000 đồng (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng) cho T4.
Sau khi nhận phân bón từ T4, Nguyễn Đức T không cung ứng cho nông dân như mục đích mua phân bón thể hiện trong Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-MBPB ngày 30/12/2011 mà đem bán cho các cửa hàng vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện N để lấy tiền sử dụng cho mục đích cá nhân.
Đến hạn thanh toán, Nguyễn Đức T không trả nợ như đã cam kết trong Hợp đồng. Ngày 17/7/2012, Nguyễn Đức T đã viết giấy xin khất nợ T4 số tiền 1.068.000.000 đồng (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng), hẹn đến ngày 30/11/2012 sẽ hoàn trả số tiền nói trên. Tuy nhiên, đến tháng 8/2012, Nguyễn Đức T đã bỏ khỏi địa phương, không trả tiền cho T4.
Ngày 15/3/2013, ông Trần Đức H1 đã làm đơn tố cáo Nguyễn Đức T gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N. Đến ngày 21/01/2024 Nguyễn Đức T bị bắt giữ theo Quyết định truy nã của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N. Tại cơ quan điều tra bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Hành vi làm và sử dụng hộ chiếu mang tên Nguyễn Đức T3 để xuất, nhập cảnh của bị can Nguyễn Đức T.
Ngày 01/4 2013, Nguyễn Đức T mượn chứng minh nhân dân (CMND) và sổ hộ khẩu của ông Nguyễn Đức T3 (sinh ngày 28/12/1976, trú tại xóm A (nay là xóm H), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) là em trai Nguyễn Đức T, đến Phòng Q1 Công an tỉnh N làm thủ tục xin cấp hộ chiếu để đi nước ngoài. Quá trình làm thủ tục thì Nguyễn Đức T đã lấy thông tin ông Nguyễn Đức T3 điền vào hồ sơ, thủ tục xin cấp hộ chiếu. Sau khoảng 01 tháng thì Nguyễn Đức T nhận được một quyển hộ chiếu ghi số B7776731 cấp ngày 03/4/2013, Họ và tên Nguyễn Đức T3, sinh ngày 28/12/1976, số CMND: [...] do Cục Q2 Bộ C1 cấp. Sau
4
khi nhận được hộ chiếu, Nguyễn Đức T đã sử dụng hộ chiếu này xuất, nhập cảnh đi các nước, cụ thể như sau:
- Ngày 09/10/2023, xuất cảnh từ Việt Nam sang Malaysia tại Cảng hàng không quốc tế N.
- Ngày 29/3/2016, nhập cảnh từ Malaysia về Việt Nam tại Cảng hàng không quốc tế N.
- Ngày 23/4/2016, xuất cảnh từ Việt Nam sang Malaysia tại Cảng hàng không quốc tế N.
- Ngày 12/9/2023, nhập cảnh từ Malaysia về Việt Nam tại Cảng hàng không quốc tế T5.
- Ngày 25/9/2023, xuất cảnh từ Việt Nam sang Malaysia tại Cảng hàng không quốc tế T.
- Ngày 06/12/2023, nhập cảnh từ Malaysia về Việt Nam tại Cảng hàng không quốc tế T5.
Qua làm việc với Phòng Q1 Công an tỉnh N, xác định ông Bùi Quang P (cán bộ Phòng thời điểm đó) là người trực tiếp, tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu của hộ chiếu ghi số B7776731 cấp ngày 03/4/2013. Họ và tên Nguyễn Đức T3, sinh ngày 28/12/1976; số CMND: [...]. Quá trình tiếp nhận, sau khi người đề nghị cấp hộ chiếu nộp Tờ khai và CMND kèm theo thì ông Bùi Quang P đã tiếp nhận hồ sơ và thực hiện trình tự thủ tục kiểm tra thông tin công dân theo quy định tại Nghị định số 136/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam ngày 17/08/2007 và Thông tư số 07/2013/TT-BCA ngày 30/01/2013 của Bộ C1, cụ thể:
- Tiến hành so sánh thông tin trong CMND mang tên Nguyễn Đức T3 so với thông tin ghi trong tờ khai. Kết quả, thông tin trùng khớp.
- Tiến hành kiểm tra, đối chiếu hình ảnh trên tờ khai so với hình ảnh trên CMND, so với hình ảnh con người thực tế. Kết quả, không phát hiện có sự sai khác về hình ảnh giữa các nội dung trên.
Sau khi kiểm tra, nhận thấy hồ sơ đã đúng, đầy đủ và hợp lệ, ông Bùi Quang P đã đóng dấu “ĐÃ ĐỐI CHIẾU” vào tờ khai, rồi chuyển các bước tiếp theo theo quy định.
Bản thân ông Bùi Quang P không có mối quan hệ gì với Nguyễn Đức T3 và Nguyễn Đức T. Quá trình tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu mang tên Nguyễn Đức T ông Bùi Quang P không nhận tiền hay lợi ích vật chất gì.
* Kết quả trưng cầu giám định; thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
5
- Kết quả trưng cầu giám định: Ngày 30/6/2014, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định chữ ký, chữ viết, của Nguyễn Đức T.
Kết luận giám định số 46/GĐKTHSTT ngày 09/7/2014 của Phòng K Công an tỉnh N (bút lục số 54) kết luận:
- Chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T dưới mục “đại diện bên B” trên “Hợp đồng kinh tế” số 01/HĐMNPB ngày 30/12/2011, ký hiệu A1; chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T dưới mục “đại diện HND xã Nghi Thạch” trên “bản đối chiếu công nợ” ngày 20//2012, ký hiệu A2; chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T dưới mục “Người viết giấy” trên “giấy xin khất nợ” ngày 17/7/2012, ký hiệu A3 với chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T trên “sơ yếu lý lịch cán bộ, công chức” của ông Nguyễn Đức T, ký hiệu M1; chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T trên “tiểu sử tóm tắt” của ông Nguyễn Đức T, ký hiệu M2; chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T trên “Báo cáo...” số 15-BC/HNDX ngày 12/11/2011 của Hội nông dân xã N, ký hiệu M3; chữ ký, chữ viết Nguyễn Đức T trên “Phiếu bổ sung lý lịch cán bộ, công chức” của ông Nguyễn Đức T, ký hiệu M4 là do một người ký, viết ra.
Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần cho bị hại với số tiền 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại cho bị hại.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 118/CT-VKSNA-P3 ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 355 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 355; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 21/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại cho người bị hại.
Về vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
6
Trả lại bị cáo chiếc điện thoại đã thu giữ không liên quan đến hành phạp tội của bị cáo
V1 án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T tranh luận: Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên không tranh luận về phần tội danh. Đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình,đã tác động gia đình khắc phục một phần thiệt hại, có nhân thân tốt. Bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo 11 - 12 năm tù.
Bị cáo Nguyễn Đức T đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì hiện nay bị cáo đã trên 60 tuổi để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng, kết luận giám định, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận:
Trong quá trình công tác và giữ chức vụ chủ tịch Hội nông dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Mặc dù không được giao nhiệm vụ cung ứng phân bón cho nông dân phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2011 - 2012 nhưng Nguyễn Đức T lợi dụng danh nghĩa Chủ tịch Hội nông dân xã N ký hợp đồng cung ứng phân
7
bón số 01/HĐ-MBPB ngày 30/12/2011 với T4 mua của T4 224,75 tấn phân bón (gồm 160,75 tấn phân NPK và 64 tấn phân Lân), tương đương số tiền: 1.068.000.000 đồng (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng). Sau khi nhận được 224,75 tấn phân bón của T4, Nguyễn Đức T đã bán toàn bộ số phân bón này cho các cửa hàng vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện N và lấy tiền sử dụng cho mục đích cá nhân, không trả lại tiền cho T4 và bỏ trốn sang nước Malaixia, đến ngày 21/01/2024 Nguyễn Đức T về Việt Nam và bị bắt giữ khi đang lẩn trốn tại địa bàn xã N, huyện N.
Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Đức T, Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt của ông Trần Đức H1 (sinh năm 1978, HKTT: phường H, TP V, tỉnh Nghệ An người được ủy quyền điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hoạt động của T4) là: 1.068.000.000 đồng (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 355 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi đưa vụ án ra xét xử, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả với số tiền 230.000.000đ (hai trăm ba mươi triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, bị cáo có mẹ ruột được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo hiện nay là người cao tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi, tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức T là đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại cho Doanh nghiệp, gây bức xức cho xã hội. Do đó, cần lên mức án nghiêm minh phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, do đó áp dựng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại là anh Trần Đức H1 vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 1.068.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Do đó, buộc bị cáo Nguyễn Đức T bồi thường cho bị hại số tiền 1.068.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng) nhưng được trừ đi số tiền 230.000.000đ (hai trăm ba mươi triệu đồng) đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An. Bị hại được quyền nhận số tiền 230.000.000đ ( hai trăm
8
ba mươi triệu đồng) mà gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục một phần hậu quả tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004869 ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Biên lai số 0004775 ngày 08/7/2024. Bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 838.000.000đ (Tám trăm ba mươi tám triệu đồng).
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo:
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 355871117294445, số IMEI 2: 355872117294440 không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Tiêu hủy 01 (Một) thẻ nhựa ghi chữ “NGUYEN DUC THE” không có giá trị sử dụng.
[7] Về các nội dung khác:
- Đối với Nguyễn Thị C (sinh năm 1976, trú xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) là người cùng với bị can Nguyễn Đức T đưa số phân bón mà T4 cung cấp cho Nguyễn Đức T bán cho các cá nhân, hộ kinh doanh trên địa bàn huyện N. Tuy nhiên, quá trình bán số phân bón này, Nguyễn Thị C không biết được nội dung trao đổi, thoả thuận mua bán giữa Nguyễn Đức T với T4, không biết được việc Nguyễn Đức T lợi dụng lấy danh nghĩa là chủ tịch Hội nông dân xã N mua phân bón của DNTN Tuấn Đ1 rồi chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bản thân Nguyễn Thị C không nhận được bất kỳ khoản tiền hay lợi ích vật chất gì từ Nguyễn Đức T. Căn cứ kết quả điều tra: không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với Nguyễn Thị C với vai trò đồng phạm trong vụ án.
- Đối với các cá nhân, hộ kinh doanh mua phân bón từ Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị C: Quá trình mua phân bón từ Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị C thì các cá nhân, hộ kinh doanh này chỉ được Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị C trao đổi là phân bón của Hội nông dân xã N cung ứng cho nông dân còn thừa nên đem bán. Họ không biết nguồn gốc số phân bón này do Nguyễn Đức T chiếm đoạt của T4. Quá trình mua bán phân bón của Nguyễn Đức T, các hộ kinh doanh đã thanh toán đầy đủ tiền hàng cho Nguyễn Đức T. Do vậy, không có căn cứ xem xét xử lý đối với các cá nhân, hộ kinh doanh này về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Đối với Nguyễn Đức T3, sinh năm: 1976, trú tại xóm A (nay là xóm H), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An: Nguyễn Đức Thế là em trai của Nguyễn Đức T, là người đưa Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của mình cho Nguyễn Đức T mượn. Tuy nhiên, Nguyễn Đức T3 không biết việc Nguyễn Đức T sử dụng giấy tờ tuỳ thân của mình để làm hộ chiếu mang tên Nguyễn Đức T3 tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh để xuất cảnh ra nước ngoài và cũng không biết việc Nguyễn Đức T ký hợp đồng mua phân bón của T4. Căn cứ kết quả điều tra: không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm đối với Nguyễn Đức T3.
9
- Đối với Bùi Quang P (cán bộ Phòng Q1 Công an tỉnh N): Bùi Quang P là người trực tiếp, tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu từ Nguyễn Đức T. Quá trình tiếp nhận, kiểm tra, đối chiếu, phỏng vấn, Nguyễn Đức T, ông Bùi Quang P đã thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 17/08/2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Thông tư số 07/2013/TT-BCA ngày 30/01/2013 của Bộ C1. Việc ông Bùi Quang P không phát hiện được Nguyễn Đức T sử dụng thông tin của Nguyễn Đức T3 để đề nghị cấp hộ chiếu là do Nguyễn Đức T đã có sự chuẩn bị từ trước để đối phó. Mặt khác, do Nguyễn Đức T và Nguyễn Đức Thế 1 hai anh em ruột, có ngoại hình giống nhau nên quá trình đối chiếu ảnh và con người thực tế, ông P không phát hiện được. Bản thân ông Bùi Quang P không nhận bất cứ khoản tiền hay lợi ích vật chất gì trong quá trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Căn cứ kết quả điều tra xác định: không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông Bùi Quang P.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 355; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 13 ( mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 21/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 579 Bộ luật Dân Sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T bồi thường cho bị hại số tiền 1.068.000.000₫ (Một tỷ không trăm sáu tám triệu đồng) nhưng được trừ đi số tiền 230.000.000₫ (hai trăm ba mươi triệu đồng) đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An. Bị hại được quyền nhận số tiền 230.000.000đ ( hai trăm ba mươi triệu đồng) mà gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục một phần hậu quả tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004869 ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Biên lai số 0004875 ngày 08/7/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
10
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu xanh đen đã qua sử dụng.
- Tiêu hủy và 01 (Một) thẻ nhựa ghi chữ “NGUYEN DUC THE"..
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng có tại Phiếu nhập kho vật chứng ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và đại diện Kho vật chứng Công an tỉnh N.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 32.000.000đ ( Ba mươi hai triệu đồng) án phí Dân sự .
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
11
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
