|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày 23 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tráng Thị Giàng và bà Cầm Thị Đoa.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện M.
- - Công chức thuộc Viện kiểm sát: Bà Hà Phương N.
- - Thư ký Tòa án: Ông Hà Văn Y.
- - Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đinh Thế Hải T và ông Mùi Văn T1.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với:
Nguyễn Đức H,
sinh năm: 1989 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị K; bị cáo có vợ là Vũ Thị Hồng L, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024 đến nay; tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Nguyễn Đức H nghiện chất ma tuý. Khoảng 12 giờ ngày 04/3/2024, Nguyễn Đức H gọi điện thoại cho một người đàn ông có số điện thoại 0853.526.xxx trước đây xin được của một người nghiện ma túy khác mà H không nhớ tên để hỏi mua ma tuý. Qua điện thoại, H hỏi mua người đàn ông đó 400.000 đồng ma tuý, người đàn ông hẹn H ra khu vực Nhà văn hóa tiểu khu B để giao ma tuý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô BKS 88H3-3216 đi đến khu vực Nhà văn hóa tiểu khu B, thị trấn M gặp người đàn ông đó và mua được 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng Heroine với giá 400.000 đồng, H cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà thì gặp tổ công tác Công an thị trấn M, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức H: 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, kiểu dáng xe Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 88H3 - 3216; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung vỏ màu đen.
Ngày 04/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức H có khối lượng 0,43 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu H1
Tại Kết luận giám định số 625/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là D; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,43 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,43 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D.
Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Nguyễn Đức H: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, kiểu dáng xe Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 88H3 – 3216, số khung KPCH022LK048146, số máy 1P50FMH00048146, xe không có gương chiếu hậu và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung vỏ màu đen; tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim trong chiếc điện thoại trên.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Đức H.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Nguyễn Đức H nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an thị trấn M thu giữ vào ngày 04/3/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn M lập vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 04/3/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Đức H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 04/3/2024 bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,43 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là người nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, kiểu dáng xe Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 88H3 – 3216, số khung KPCH022LK048146, số máy 1P50FMH00048146, xe không có gương chiếu hậu và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung vỏ màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức H. Xét thấy chiếc xe máy và chiếc điện thoại là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Đức H, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 thẻ sim nằm trong chiếc điện thoại trên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Đức H; 01 thẻ sim nằm trong chiếc điện thoại cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo, xét thấy đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức H như H khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng ra quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 24 (Hai mươi tư) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Nguyễn Đức H: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, kiểu dáng xe Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 88H3 – 3216, số khung KPCH022LK048146, số máy 1P50FMH00048146, xe không có gương chiếu hậu và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung vỏ màu đen; tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim trong chiếc điện thoại trên.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Đức H.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 04/3/2024 bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,43 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
