Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 22/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải

2. Bà Nông Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Khấu Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/10/1989 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12 phổ thông; Con ông: Khấu A (sinh năm 1963); Con bà: Hoàng Thị O (sinh 1966), Đều cư trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Thu H1 (đã ly hôn). Con: có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/02/2016 Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/04/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Triệu Đức H2 - sinh năm 1990

Địa chỉ: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 04/4/2024 Triệu Đức H2 gọi điện thoại cho Khấu Văn H để hỏi mua ma túy. H đồng ý và hẹn H2 đến quán nước của mình tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C thuộc tổ A, phường T, thành phố C để giao dịch. Sau đó H một mình đi bộ đến khu vực đầu cầu H thuộc phường S, thành phố C để tìm mua ma túy về bán lại cho H2 nhằm mục đích kiếm lời. Tại đây H gặp và mua 200.000 đồng tiền ma túy với một người đàn ông không quen biết, trông giống người nghiện được 01 gói ma túy được gói bằng giấy nilon màu trắng. H cầm gói ma túy quay về quán nước thì thấy gói ma túy bị rách nên H đã bóc lớp nilon màu trắng bên ngoài ra và xé một mảnh nilon màu hồng gói lại, giấu vào góc bên trái chiếc tủ sắt đặt tại quầy bán hàng của H. Một lúc sau H2 đến gặp và đưa cho H 500.000 đồng, H nhận tiền rồi đưa lại cho H2 01 gói ma túy đã chuẩn bị sẵn. H2 cầm gói ma túy vừa mua được đi đến khu vực gần cầu H sử dụng một phần cho bản thân. Phần còn lại Hiệp gói lại rồi cất ở túi quần đằng trước bên trái chiếc quần H2 đang mặc và chuẩn bị đi về thì bị cơ quan điều tra bắt quả tang.

Tang vật thu giữ của Triệu Đức H2 là: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có một gói giấy bạc màu xanh lá cây có chứa các cục bột nhỏ màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme màu xám, loại màn hình cảm ứng số IMEI: 8637742050288987, IMEI 2:863742050288995 lắp sim số 0824.822.616, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp đối với Khấu Văn H phát hiện thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím, loại bàn phím bấm, có số seri 356338052777103 lắp sim số 0559.744.173, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI: 355359089642012, lắp sim số: 0336.946.891, điện thoại cũ đã qua sử dụng, số tiền 3.870.000 đồng (gồm 03 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 19 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 05 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng); 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 túi zip có in chữ "ĐỆ NHẤT THUỐC LÀO VÕ TÒNG"; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu hồng đã bị xé rách.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật xác định được khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Triệu Đức H2 là: 0,04g (Không phẩy không bốn gam). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trưng cầu giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 321 ngày 05/4/2024 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 12/04/2024 của phòng K công an tỉnh C kết luận: "Các cục chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)".

Số ma túy bị phát hiện thu giữ của Triệu Đức H2, bị cáo khai nhận mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 119/CT-VKSTP ngày 22/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Khấu Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Khi được H2 gọi điện thoại hỏi mua ma túy, nhằm mục đích mua ma túy về bán kiếm lời bị cáo đã tìm mua ma túy với một người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu H sau đó đem về bán lại cho Triệu Đức H2 nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo sử dụng chiếc điện thoại NOKIA để liên lạc với H2. Số tiền bị cáo bị thu giữ có 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho H2. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone và số tiền 3.370.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Triệu Đức H2 vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xin xét xử vắng mặt Triệu Đức H2 không có ý kiến gì đối với chiếc điện thoại của H2 đã bị cơ quan điều tra thu giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Khấu Văn H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Khấu Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Khấu Văn H từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Các túi và mảnh túi nilon phát hiện khi khám xét quán nước của Khấu Văn H" Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu tròn của công an phường T và Công an thành phố C.

Đối với chiếc điện thoại Redme màu xám thu giữ của Triệu Đức H2 và chiếc điện thoại NOKIA thu giữ của Khấu Văn H xác định đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Hoàn trả lại cho Khấu Văn H số tiền 3.370.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Truy thu số tiền 500.000 đồng bị cáo hưởng lợi do thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Khấu Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 04/04/2024 tại khu vực tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh C phối hợp với công an phường T, thành phố C đã phát hiện và bắt quả tang Triệu Đức H2 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0.04g (Không phẩy không bốn gam) chất ma túy (Heroine) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Số ma túy này H2 khai nhận được mua với Khấu Văn H. Tại cơ quan điều tra Khấu Văn H thừa nhận đã bán ma túy cho Triệu Đức H2 nhằm hưởng lợi từ số tiền chênh lệch khi mua bán.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính do vậy được coi là có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Khấu Văn H từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Về mức hình phạt, xét tính chất, hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng là phù hợp với hành vi của bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là các mảnh túi nilon đã thu giữ của bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng, bị cáo không đề nghị được trả lại do vậy cần phải tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redme màu xám thu giữ của Triệu Đức H2 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím, loại bàn phím bấm, có số seri 356338052777103 lắp sim số 0559.744.173, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy do vậy cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI: 355359089642012, lắp sim số: 0336.946.891, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do vậy cần trả lại cho bị cáo.

Đối số tiền 3.870.000 đồng (gồm 03 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 19 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 05 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng) bị cáo khai nhận có 500.000 đồng là tiền của H2 mua ma túy với bị cáo. Số tiền còn lại là do bị cáo lao động mà có, xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo do vậy cần hoàn trả lại số tiền còn lại là 3.370.000 đồng cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

[7]. Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Khấu Văn H khai được mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ, khi mua không có ai biết và chứng kiến do vậy cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý trong vụ án khác khi có căn cứ.

Đối với Triệu Đức H2 xét thấy H2 mua ma túy về sử dụng cho bản thân, khối lượng ma túy H2 tàng trữ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C đã xử phạt hành chính đối với Triệu Đức H2 do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo có được do bán ma túy cho Triệu Đức H2 cần phải truy thu sung ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Khấu Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

    Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Khấu Văn H 26 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 04/04/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Các túi và mảnh túi nilon phát hiện khi khám xét quán nước của Khấu Văn H" Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu tròn của công an phường T và Công an thành phố C.
    • - Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước:

      01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme màu xám (thực tế nhận màu xanh than), loại màn hình cảm ứng số IMEI: 8637742050288987, IMEI 2:863742050288995 lắp sim số 0824.822.616, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;

      01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu tím, loại bàn phím bấm, có số seri 356338052777103 lắp sim số 0559.744.173, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

    • - Hoàn trả lại cho bị cáo Khấu Văn H:

      01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI: 355359089642012, lắp sim số: 0336.946.891, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy

      Tiền Việt Nam: 3.370.000 đồng. Cơ quan công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Cao Bằng theo ủy nhiệm chi số 32 ngày 13/8/2024 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    • - Truy thu số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo Khấu Văn H.

    Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 149 ngày 15/8/2024 .

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Xử buộc bị cáo Khấu Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger