Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST
Ngày: 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh, ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đàm Hoàng Sơn - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/HSST- QĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Quang T, sinh năm 1999, tên gọi khác: không
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Dương Quang T1 (đã chết) và bà Hà Thị T2, sinh năm 1980; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có vợ Lãnh Thị L, sinh năm 1998 và có 01 con, sinh năm 2022; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 14/10/2023, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương - có mặt

Người bị hại: Ông Dương Văn N, sinh năm 1973 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Văn H, sinh năm 1997 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Dương Thị S, sinh năm 1947 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Dương Thị B, sinh năm 1995 – vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Anh Hà Văn C, sinh năm 1989 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 04/10/2023, Dương Quang T đi bộ từ khu vực Cầu K, xã Đ, huyện P để về nhà. Khi đi đến khu vực bãi cây keo tại rìa Bờ kênh thuộc xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên Tuyến nhìn thấy 02 con bò màu vàng đang buộc tại bãi cây keo. Lúc này, do đang có nợ tiền nên T nảy sinh ý định trộm cắp bò để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuyến quan sát xung quanh đồi keo không thấy có người trông coi nên lại gần tháo dây chạc buộc của 01 con bò cái, lông màu vàng, giống bò ta. Sau đó, T dắt con bò đi bộ theo hướng đi ra Chùa H, xã Đ rồi theo hướng đi về N. Tại đây, T buộc con bò tại khu vực bãi đất trống để cất giấu. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động vào mạng xã hội Facebook và tìm vào “Hội nhóm mua bán trâu bò P” để tìm người mua. Quá trình tìm kiếm T đã thấy người có tài khoản Facebook đăng ký tài khoản có số điện thoại 0868.776.xxx thường hay giao dịch mua bán trâu bò. Tuyến đã lấy số điện thoại kết bạn qua zalo với số điện thoại nêu trên, tên zalo “H”. xác định là của anh Lê Văn H và gửi hình ảnh đặc điểm con bò cho anh H và thỏa thuận giá bán. Khi thống nhất giá bán là 6.000.000 đồng, anh HT đã thống nhất địa điểm để xem bò. Khoảng 12 giờ cùng ngày, anh H xuống khu vực Tuyến buộc con bò xem đặc điểm bò và đồng ý mua bò của T với giá 6.000.000 đồng. Sau đó anh H nhờ T dắt bò đến khu vực xã Ú, huyện P do xe chở của H đang sửa chữa tại đây. Khi đến khu vực gần bưu điện xã Ú, huyện P, T giao con bò cho anh H và viết giấy mua bán bò. T đã bớt cho H 200.000 đồng gọi là tiền gia lộc và nhận số tiền 5.800.000 đồng từ anh H. Số tiền có được T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến trưa ngày 04/10/2023, ông Dương Văn N đi ra vườn cây keo thấy mất 01 con bò nên đã cùng người nhà đi tìm nhưng không thấy nên đã làm đơn trình báo Công an xã Đ về việc mất trộm tài sản.

Ngày 05/10/2023, sau khi T biết sự việc Tuyến trộm bò bị phát hiện nên đến khoảng 17 giờ cùng ngày T đã đến Công an xã Đ, huyện P để đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình đối với số tiền bán bò T đã tiêu xài cá nhân hết. T đã tác động đến gia đình đi chuộc lại và giao cho Công an huyện P.

Ngày 06/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 98/YC-ĐTTH, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện P xác định giá trị của 01 con bò cái đã trưởng thành, dạng bò ta, lông màu vàng, có khối lượng 100 kg, còn sống.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 98/KL-HĐĐGTS, ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận: Giá trị của 01(một) con bò cái đã trưởng thành, dạng bò ta, lông màu vàng, có khối lượng 100 kg, còn sống là: 9.500.000 đồng.

Ngày 05/10/2023 Cơ cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức đã bàn giao cho gia đình ông N chăm sóc và quản lý.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu LG, màu bạc, có ốp nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu "LGT".

01 áo cộc tay, loại áo polo, màu đen, có thêu dòng chữ “yody” màu trắng, phía trước bên ngực trái, cũ đã qua sử dụng và 01 quần sooc, màu đen, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “QA”, Toàn bộ đang được cất giữ, bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện P chờ xử lý.

Về phần dân sự:

- Ông N đã nhận lại tài sản bị mất trộm là con bò nên ông N không đề nghị T bồi thường gì thêm.

- Đối với số tiền 6.500.000 đồng anh Hà Văn C đã bỏ ra để chuộc lại con bò giúp T, anh C không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKSPB, ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Quang T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên toà ông Dương Văn N khai: Khoảng 08 giờ ngày 04/10/2023 ông có buộc hai con bò ở bãi trồng keo tràm ở gần nhà để ông đi làm đồng cách đó 100 mét, đến 11 giờ ông về thì không thấy một con bò, tìm xung quanh cũng không thấy, nghi ngờ có người dắt trộm nên ông N đã trình báo công an xã Đ. Nay ông đã nhận lại con bò mà bị cáo T trộm cắp nên không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Quang T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Dương Quang T đã trả cho ông Dương Văn N 01 con bò bị mất trộm, tại phiên tòa ông N không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo cộc tay loại áo polo, màu đen, có thêu dòng chữ “yody” màu trắng phía trước bên ngực trái, áo cũ đã qua sử dụng và 01 quần soóc màu đen, cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu bạc, có ốp phía sau màu đen.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đối với việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người liên quan, Hội đồng xét xử thấy những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện của vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự và chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người người liên quan trong vụ án.

[3]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Khoảng 09 giờ, ngày 04/10/2023, tại xóm B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sơ hở của người bị hại Dương Quang T lén lút chiếm đoạt 01 con bò của ông Dương Văn N có giá trị là: 9.500.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Như vậy ý thức, hành vi của của bị cáo Dương Quang T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật. Nội dung điều luật quy định như sau:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản mà bị cáo đã trộm cắp và không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ: 01 áo cộc tay loại áo polo, màu đen, có thêu dòng chữ “yody” màu trắng phía trước bên ngực trái, áo cũ đã qua sử dụng và 01 quần soóc màu đen, cũ đã qua sử dụng, tất cả được đựng trong hộp cát tông niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QA. Xét đây là quần áo của bị cáo T mặc khi thực hiện tội phạm, giá trị sử dụng không lớn cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu bạc, có ốp phía sau màu đen, được đựng trong bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu LGT . Xét đây là điện thoại bị cáo T dùng để liên lạc bán con bò mà bị cáo trộm cắp, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ pháp luật áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, Điều 47, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • - Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92, Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt Dương Quang T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 21 tháng 12 năm 2023). Giao bị cáo Dương Quang T cho Ủy ban nhân dân T3, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (là bị cáo Dương Quang T) nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự.

Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dương Quang T: Buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21 tháng 12 năm 2023 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo cộc tay loại áo polo, màu đen, có thêu dòng chữ “yody” màu trắng phía trước bên ngực trái, áo cũ đã qua sử dụng và 01 quần soóc màu đen, cũ đã qua sử dụng, tất cả được đựng trong hộp cát tông niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QA.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu bạc, có ốp phía sau màu đen, được đựng trong bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu LGT.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 21/11/2023 giữa Công an huyện P, tỉnh Thái NguyênChi cục THA dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên.)

4. Về án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, vắng mặt người có quyền lợi liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt tại phiên tòa; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt tại phiên tòa./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Mây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 126/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Quang Tuyến phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger