|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Dũng
Ông Nguyễn Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Huy và bà Nguyễn Hồng L - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 346/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Xuân C, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1986 tại hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân T và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Ninh Văn H1, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Văn C1 và bà Lương Thị C2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 224/2006/HSST ngày 02/11/2006 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Ninh Văn H1 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (phạm tội khi 17 tuổi 03 tháng 07 ngày, được coi là không có án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS); bị tạm giữ từ 03/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
3. Đoàn Văn Đ, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1976 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N1 và bà Đinh Thị Đ1; có vợ là Nguyễn Thị Thu H2 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 191/2019/HSPT ngày 22/04/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Đoàn Văn Đ 03 năm tù về tội Đánh bạc và 01 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 04 năm 06 tháng tù (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2022, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
4. Trương Văn Y, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị H3; vợ là Bùi Thị H4 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
5. Bùi Văn T1, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T2 và bà Vũ Thị T3; Có vợ là Bùi Thị Thùy L1, sinh năm 1988 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ 02/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt
6. Đoàn Trung K, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2003 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ2 và bà Lê Thị H5; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ 03/01/2024 đến ngày 11/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tại trước sảnh chính tòa nhà HH4 khu chung cư H, thuộc phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an quận N phát hiện Vũ Văn T4 (sinh năm: 1986, trú tại: thôn Đ, A, A, Hải Phòng) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 15C1-176.21 chở Bùi Văn T1 ngồi phía sau cầm 01 bao tải màu trắng có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ của T1 01 bao tải trắng bên trong có 03 cuộn tròn, mỗi cuộn gồm nhiều vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ có đường kính khoảng 02cm, dài khoảng 05cm, một đầu gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm và được liên kết thành 03 tràng (nghi là pháo nổ, niêm phong mẫu số 10). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 15C1-176.21 và 01 điện thoại di động OPPO A83 màu xanh của T1.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn T1 khai nhận: T1 có mối quan hệ bạn bè với Trương Văn Y. Trước đó, Y nói với T1 là Y có pháo nổ, nếu T1 có khách hỏi mua, Y sẽ bán cho T1 với giá 900.000 đồng/m, T1 đồng ý. Khoảng 18 giờ ngày 01/01/2024, T1 nhận được điện thoại của một người có tên T5 sử dụng tài khoản zalo “Thảo Ma” (T1 không biết lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 12m pháo nổ. T1 báo giá cho T5 13.200.000 đồng (tương ứng 1.100.000 đồng/m). T5 đồng ý. T5 chuyển khoản vào tài khoản số 0031001180753 mở tại ngân hàng V2 của T1 số tiền 5.000.000 đồng để đặt cọc. Cả hai hẹn chiều ngày 02/01/2024 sẽ gặp nhau, giao dịch ở trước cửa tòa nhà HH4, chung cư H, Đ, Ngô Q, Hải Phòng. Sau đó, T1 gọi điện hỏi mua của Trương Văn Y 12m pháo và chuyển khoản trả trước vào tài khoản số 19030450351013 mở tại ngân hàng T9 của Y số tiền 2.000.000 đồng, hẹn ngày hôm sau lấy pháo sẽ thanh toán hết số còn lại.
Khoảng 14 giờ ngày 02/01/2024, Y gọi báo cho T1 đã có 6m pháo nổ, T1 đến lấy trước, số còn lại tối cùng ngày Y sẽ giao nốt cho T1. Do tay đang bị đau nên T1 nhờ Vũ Văn T4 (là bạn ở nhờ nhà bố mẹ của T1) chở T1 đi có việc. T4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15C1-176.21 của T1 chở T1 đến nhà Y ở xã A, huyện A, Hải Phòng. Đến nơi, T1 đi vào trong nhà gặp Y còn T4 đứng chờ ngoài sân. Lúc này, Y đưa cho T1 01 bao tải màu trắng bên trong có 03 tràng pháo, mỗi tràng dài 2m, tổng cộng là 6m pháo nổ. Nhận được pháo, Trường quay ra nhờ T4 chở đến chung cư H thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ. Khi nhờ T4 chở, T1 không nói cho T4 biết việc T1 đi lấy pháo của Y và đem bán cho khách.
Căn cứ lời khai của Bùi Văn T1, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, xác minh Trương Văn Y. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 tại nhà của Y ở thôn N, xã A, huyện A, Hải Phòng, cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang Trương Văn Y và Đoàn Văn Đ đang có hành vi buôn bán pháo nổ. Thu giữ: 04 cuộn tròn, mỗi cuộn gồm nhiều vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, một đầu có gắn một sợi dây cháy chậm và được liên kết thành 04 tràng rồi cuộn thành 04 khối (trong đó có 03 khối lớn, 01 khối nhỏ); 09 quả nghi pháo nổ màu đỏ kích thước 5x2cm (cùng niêm phong mẫu số 11). Ngoài ra thu của Y 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh và thu của Đ 01 điện thoại Iphone 11 màu tím.
Tại Cơ quan điều tra, Trương Văn Y và Đoàn Văn Đ khai nhận: Khoảng cuối tháng 12 năm 2023, Đ nói với Y về việc Đ có pháo nổ bán với giá 800.000 đồng/m, nếu ai có nhu cầu mua thì Y báo để Đ lấy, tiền lãi sẽ chia đôi mỗi người một nửa. Ngày 01/01/2024, có 02 khách gọi điện cho Y hỏi mua 13m pháo nổ (trong đó T1 mua 12m và một người Yên không rõ lai lịch, địa chỉ mua 1m), Y báo giá 900.000 đồng/m. Sau đó, Y báo cho Đ để Đ lấy 13m pháo. Đ đã liên hệ mua của một số người như sau:
- Đ gọi hỏi mua của Đặng Xuân C 06m pháo tổng số tiền là 3.000.000 đồng, ngày 02/01/2024 C mang pháo đến giao cho Đ. Đ đã chuyển số pháo này cho Y để Y bán cho T1.
- Đ mua của Ninh Văn H1 03m pháo và 09 quả pháo lẻ với tổng số tiền là 1.500.000 đồng; mua của Nguyễn Tuấn A (sinh năm: 1989, nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng) 04m pháo với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Sau khi lấy pháo từ H1 và Tuấn A, khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Đ mang đến giao cho Y thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1 không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Căn cứ lời khai của Đ, ngày 02/01/2024 Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ninh Văn H1 và Đặng Xuân C, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ của H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen của C.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của H1, thu giữ 03 tờ giấy màu đỏ kích thước 68x6cm, 01 tờ giấy màu đỏ kích thước 18x6cm, 01 cuộn giấy màu vàng được bọc nilon dạng màng bọc thực phẩm, 01 hộp giấy màng bọc thực phẩm chưa qua sử dụng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của C, thu giữ tại phòng ngủ 01 hộp nhựa nắp màu xanh nhạt, kích thước 15x10cm, trong chứa chất bột màu vàng (niêm phong mẫu M1); 03 hộp nhựa màu trắng, kích thước 18x15cm, trong chứa chất bột màu trắng (Niêm phong mẫu số 01, 02, 07); 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa các cục bột màu vàng (Niêm phong mẫu số 03); 01 túi nilon viền zip màu đỏ, kích thước 28x20cm trong chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon viền zip màu đỏ, kích thước 25x20cm, vỏ túi ghi chữ KNO3 99% Pytonew, trong chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (Niêm phong mẫu số 04, 05); 01 túi nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu đen (Niêm phong mẫu số 06); 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu nâu (Niêm phong mẫu số 08); 01 túi nilon bên trong chứa các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 01 tràng, 10 vật hình trụ tương tự để rời, không liên kết nhau (Niêm phong mẫu số 09); 01 dây dạng dây pháo; 01 lọ keo 502; 23 tút pháo có vỏ giấy màu đỏ kích thước dài 5,4cm; 01 phễu nhựa màu trắng bên trong còn bám dính chất bột màu trắng (niêm phong mẫu M2); 01 vỏ chai nhựa có tem Wake up 247 gắn 01 phễu màu đỏ ở phần nắp; 01 túi nilon màu đen chứa các tập giấy màu đỏ kích thước 75x55cm và 75x5cm; 04 hộp màng bọc thực phẩm nhãn hiệu Hoàng Yến S; 01 kéo kim loại có cán nhựa màu đen; 02 cuộn chỉ màu trắng; 01 bát nhựa hình tròn, đường kính 15cm trong bám dính chất bột màu đen (niêm phong mẫu M3); 01 bát sứ đường kính 10cm bên trong bám dính chất bột màu đen (niêm phong mẫu M4); 01 chày gỗ màu đen dài 32cm; 01 nồi inox tay cầm, nhãn hiệu SUNHOUSE đường kính 18cm trong có chất bột màu nâu (niêm phong mẫu M5); 01 hộp Carton màu vàng kích thước 15x20cm, trong chứa các sợi dây màu bạc (niêm phong mẫu M6); 01 vỉ keo 10 lọ nhãn hiệu Thiên Long; 01 sàng lọc tay cầm bằng nhựa màu xanh, mắt lưới bằng kim loại đường kính 20cm, bám dính chất bột màu đen (niêm phong mẫu M7); 01 chổi quét có cán nhựa màu vàng dài 18cm; 01 dao nhựa rọc giấy màu vàng dài 16cm; 04 đũa gỗ; 01 bát nhựa màu trắng, đường kính 15cm, trong chứa chất bột màu đen (niêm phong mẫu M8).
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Xuân C khai: Từ khoảng tháng 6/2023, H1 rủ C cùng làm pháo nổ để bán kiếm lời. H1 có nhiệm vụ đi mua giấy đỏ ở cửa hàng bán vàng mã với giá 360.000 đồng một tập gồm 500 tờ rồi mang về cuộn thành vỏ pháo. C có nhiệm vụ mua và trộn nguyên liệu làm thuốc nổ và ngòi nổ, nhồi thuốc nổ, ngòi nổ vào vỏ pháo, tết các quả pháo thành mỗi tràng pháo dài khoảng 1-2m. Về nguyên liệu, C đến Công ty H7, địa chỉ số B N, phường Đ, L, Hải Phòng gặp và mua của anh Nguyễn Long V (sinh năm 1980, trú tại số A T, V, Lê C3, Hải Phòng, là nhân viên công ty) KCL, lưu huỳnh 02 lần, đồng thời đặt mua Natri qua mạng, S1. Sau đó, C trộn lẫn các nguyên liệu với nhau theo tỷ lệ học trên mạng để thành thuốc nổ, nhồi thuốc nổ vào vỏ pháo đã cuộn cùng với ngòi nổ.
Thông thường với số lượng 1 kg thuốc nổ, C và H1 sản xuất được khoảng 200 quả pháo. Đến thời điểm bị bắt, C và H1 đã cùng nhau sản xuất được khoảng hơn 2.200 quả pháo nhỏ (tương ứng khoảng 18-20 tràng pháo loại dài 1m-2m). C bán cho H1 với giá 300.000 đồng/m còn H1 bán lại cho khách với giá bao nhiêu tiền thì C không rõ. Số pháo đã sản xuất được, C đã bán cho H1, Đ và cho nhiều người nhưng không nhớ cụ thể là ai, ở đâu và được bao nhiêu tiền. Các đồ vật thu giữ ở nhà Chung là nguyên liệu làm pháo và pháo thành phẩm để nếu có ai mua thì C sẽ bán lại kiếm lời.
Ninh Văn H1 khai nhận phù hợp lời khai của Đặng Xuân C, Đoàn Văn Đ và khai: Các nguyên liệu để sản xuất pháo là do C bỏ tiền ra mua. H1 chỉ giúp sức cho C trong việc cuộn vỏ pháo. H1 dùng tay cuộn tròn 07 tờ giấy đỏ rồi dùng keo dán cố định để hoàn thành 01 tút pháo. Trung bình 01 ngày, H1 làm được 400 đến 500 tút pháo rồi đưa cho C để nhồi thuốc nổ và ngòi nổ. Sau khi có pháo thành phẩm, nếu có khách hỏi, H1 sẽ mua lại của C với giá 300.000 đồng/1m. H1 thường bán cho khách với giá từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng/1m, thu lợi từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1m. Ngoài việc bán pháo cho Đ, ngày 30/12/2023 H1 đã bán cho Đoàn Trung K 03m pháo nổ với giá 1.300.000 đồng. Ngày 31/12/2023 K tiếp tục hỏi mua của H1 02m pháo nổ, H1 nói H1 còn 06m nếu K lấy cả thì H1 bán lại cho K với giá 2.500.000 đồng, K đồng ý và chuyển khoản trả trước cho H1 số tiền 1.000.000 đồng, số còn lại K hẹn H1 khi nào có tiền sẽ trả sau. Về nguồn gốc 3m pháo và 9 quả pháo lẻ (rơi ra từ tràng pháo) bán cho Đ ngày 02/01/2023, H1 không mua của Đặng Xuân C và không nhớ mua từ đâu nhưng H1 nhớ cũng mua với giá 300.000 đồng/m.
Ngoài việc sản xuất, buôn bán pháo nổ cùng C, khoảng tháng 11 năm 2023 H1 có 01 lần mua 04m pháo nổ của Nguyễn Văn T6 (sinh năm 1987, trú tại thôn L, T, A, Hải Phòng) với giá 1.300.000 đồng và 08m pháo nổ của Nguyễn Văn V1 (sinh năm 1974, trú tại thôn L, T, A, Hải Phòng) với giá 2.400.000 đồng sau đó bán lại cho một người tên H6 ở C (H1 không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 6.000.000 đồng, những lần khác H1 không nhớ cụ thể.
Ngày 02/01/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đoàn Trung K, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím của K.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của K thu giữ 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 hộp giấy chứa các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 03 tràng và một số vật để rời, không liên kết nhau (Niêm phong mẫu số 12).
Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Trung K khai nhận phù hợp với lời khai của Ninh Văn H1 và khai: Ngày 30/12/2023 sau khi mua được pháo từ H1, K đốt thấy pháo nổ tốt nên ngày 31/12/2023 K tiếp tục mua của H1 06m pháo. K cất giấu nhằm mục đích để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán. Ngoài ra, K không mua pháo của H1 lần nào khác.
Thực hiện kiểm tra điện thoại của Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Trương Văn Y, Đoàn Văn Đ, Bùi Xuân T7, Đoàn Trung K phát hiện hình ảnh một số tin nhắn, cuộc gọi liên quan đến hành vi mua bán pháo nổ ngày 02/01/2024. Kết quả giám định điện thoại đã thu giữ của các đối tượng không phát hiện dữ liệu khác liên quan đến vụ án.
Tại Bản Kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là Kali Clorat (KClO3), tổng khối lượng: 0,08 kg. Chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là Natri Benzoat (C6H5COONa), tổng khối lượng: 0,34 kg. Chất bột màu vàng của mẫu số 3 gửi giám định là Lưu huỳnh (S), tổng khối lượng: 1,82 kg. Chất bột màu trắng của mẫu số 4 gửi giám định là Kali Clorat (KClO3), tổng khối lượng: 2,68 kg. Chất bột màu trắng của mẫu số 5 gửi giám định là Kali Nitrat (KNO¬3), tổng khối lượng: 2,85 kg. Chất bột màu đen của mẫu số 6 gửi giám định là C4 (C), thường gọi là Bột than, tổng khối lượng: 0,91 kg. Chất bột màu trắng ngà của mẫu số 7 gửi giám định là Thuốc pháo nổ, tổng khối lượng: 0,59 kg. Các hạt màu nâu của mẫu số 8 gửi giám định là Dioxide silic, thường gọi là C5, tổng khối lượng: 1,88 kg. Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 01 tràng và một số vật để rời, không liên kết với nhau của mẫu số 9 gửi giám định là Pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, các quả pháo được liên kết thành tràng thì nổ liên tiếp, tổng khối lượng: 1,62 kg. Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm và được liên kết thành 03 tràng rồi cuộn thành 03 khối của mẫu số 10 gửi giám định là Pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp, tổng khối lượng: 5,87 kg. Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm và được liên kết thành 04 tràng rồi cuộn thành 04 khối (trong đó có 03 khối lớn, 01 khối nhỏ) và 09 vật để rời, không liên kết với nhau của mẫu số 11 gửi giám định là Pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, các quả pháo được liên kết thành tràng thì nổ liên tiếp, tổng khối lượng: 8,14 kg (Trong đó: tổng khối lượng 03 khối lớn, loại tràng pháo dài 2m là 6,85 kg; tổng khối lượng của 01 khối nhỏ, loại tràng pháo dài 1m và 09 vật để rời là 1,29 kg). Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 03 tràng và một số vật để rời, không liên kết với nhau của mẫu số 12 gửi giám định là Pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, các quả pháo được liên kết thành tràng thì nổ liên tiếp, tổng khối lượng: 6,16 kg.
Tại Bản Kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu vàng đựng trong hộp nhựa của mẫu M1 gửi giám định là Lưu huỳnh (S), tổng khối lượng: 0,07 kg; Chất bột màu trắng bám dính trên phễu nhựa của mẫu M2 gửi giám định là Kali Clorat (KClO3), không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính; Chất bột màu đen bám dính trong bát nhựa của mẫu M3 gửi giám định là C4 (C), thường gọi là Bột than, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính; Chất bột màu đen bám dính trong bát nhựa của mẫu M4 gửi giám định là C4 (C), thường gọi là Bột than, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính; Chất bột màu nâu bám dính trong nồi inox của mẫu M5 gửi giám định là Dioxide silic, thường gọi là C5, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính; Các đoạn dây đựng trong hộp giấy của mẫu M6 gửi giám định là dây cháy chậm, thường dùng làm ngòi pháo, tổng khối lượng: 0,04 kg (độ dài: 7,1m); Chất bột màu đen bám dính trên sàng lọc cầm tay của mẫu M7 gửi giám định là C4 (C), thường gọi là Bột than, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính; Chất bột màu đen bám dính trong bát nhựa của mẫu M8 gửi giám định là C4 (C), thường gọi là Bột than, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính (Lưu huỳnh, Kali C6 và C4 là những nguyên liệu cần có trong pha chế tạo ra Thuốc pháo nổ).
Tại Công văn số 319/CV-PC09 ngày 26/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H thể hiện: Tổng khối lượng 03 khối lớn trong mẫu số 11 (loại tràng pháo dài 2m): 6,85 kg, trong đó mỗi khối có trọng lượng là: 2,28 kg.
Tại Bản Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của V3 Bộ C7 kết luận: Chất bột màu trắng ngà của mẫu số 7 là thuốc pháo nổ, không thuộc vật liệu nổ.
Việc xử lý đồ vật, vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận N bảo quản theo quy định của pháp luật đồ vật và vật chứng gồm:
- - 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT1/PC09 bên trong có 0,29 kg bột Natri Benzoat (C6H5COONA); 1,66 kg bột Lưu huỳnh; 2,28 kg bột Kali Clorat (KCLO3); 2,51 kg bột Kali Nitrat (KNO3); 0,7 kg bột Carbon; 0,5 kg bột thuốc pháo nổ; 1,76 kg hạt D (Cát); 0,93 kg pháo của mẫu số 9 và 3,87 kg pháo của mẫu số 10 còn lại sau giám định;
- - 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT2/PC09 bên trong có 5,79 kg pháo của mẫu số 11 và 5,2 kg pháo của mẫu số 12 còn lại sau giám định;
- - 01 hộp giấy dấu niêm phong số 134CN/PC09 bên trong có 0,04 kg bột Lưu huỳnh; 01 phễu nhựa màu trắng; 01 bát nhựa hình tròn, đường kính 15cm; 01 bát sứ đường kính 10cm; 01 nồi inox có tay cầm, đường kính 18cm; 0,04 kg dây cháy chậm; 01 sàng lọc cầm tay bằng nhựa màu xanh; 01 bát nhựa màu trắng đường kính 15cm còn lại sau giám định;
- - 01 lọ keo 502; 10 lọ keo nhãn hiệu Thiên Long; 23 vỏ tút pháo cuộn giấy màu đỏ, kích thước mỗi quả dài 5,4cm; 01 chai nhựa vỏ chữ WakeUp 247 đầu nắp có phễu màu đỏ; 01 túi nilong đen đựng các tập giấy màu đỏ có kích thước 75x55cm và 75x5cm; 04 hộp màng bọc thực phẩm nhãn hiệu Hoàng Yến S; 01 kéo kim loại có cán nhựa màu đen; 02 cuộn chỉ màu trắng; 01 chày gỗ màu đen dài 32cm; 01 chổi quét cán nhựa màu vàng dài 18cm; 01 dao rọc giấy màu vàng dài 16cm; 04 đũa gỗ; 03 tờ giấy màu đỏ kích thước 68x6cm; 01 tờ giấy màu đỏ 18x6cm; 01 cuộn màng bọc thực phẩm đã qua sử dụng; 01 hộp giấy màng bọc thực phẩm chưa qua sử dụng;
- - 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu của Đặng Xuân C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ thu của Ninh Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh thu của Trương Văn Y; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu xanh thu của Bùi Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím thu của Đoàn Trung K;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển kiểm soát: 15C1-176.21 (Kết quả giám định số khung, số máy không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự, chủ sở hữu xe là Bùi Văn T1).
Tại Bản Cáo trạng số 105/CT-VKSNQ ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố: Các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1 về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1 về tội Buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đoàn Trung K về tội Tàng trữ hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với T1, H1, Y) Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với Đ); Điều 38; các điều 17, 58 (đối với C, H1, Đ, Y) Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Đặng Xuân C và bị cáo Ninh Văn H1 mức án từ 39 đến 45 tháng tù về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm.
Bị cáo Đoàn Văn Đ mức án từ 30 đến 36 tháng tù, bị cáo Trương Văn Y mức án từ 21 đến 27 tháng tù, bị cáo Bùi Văn T1 mức án từ 18 đến 24 tháng tù đều về tội Buôn bán hàng cấm.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Trung K mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tàng trữ hàng cấm, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT1/PC09 bên trong có 0,29 kg bột Natri Benzoat (C6H5COONA); 1,66 kg bột Lưu huỳnh; 2,28 kg bột Kali Clorat (KCLO3); 2,51 kg bột Kali Nitrat (KNO3); 0,7 kg bột Carbon; 0,5 kg bột thuốc pháo nổ; 1,76 kg hạt D (Cát); 0,93 kg pháo của mẫu số 9 và 3,87 kg pháo của mẫu số 10 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT2/PC09 bên trong có 5,79 kg pháo của mẫu số 11 và 5,2 kg pháo của mẫu số 12 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số 134CN/PC09 bên trong có 0,04 kg bột Lưu huỳnh; 01 phễu nhựa màu trắng; 01 bát nhựa hình tròn, đường kính 15cm; 01 bát sứ đường kính 10cm; 01 nồi inox có tay cầm, đường kính 18cm; 0,04 kg dây cháy chậm; 01 sàng lọc cầm tay bằng nhựa màu xanh; 01 bát nhựa màu trắng đường kính 15cm còn lại sau giám định;
- + 01 lọ keo 502; 10 lọ keo nhãn hiệu Thiên Long; 23 vỏ tút pháo cuộn giấy màu đỏ, kích thước mỗi quả dài 5,4cm; 01 chai nhựa vỏ chữ WakeUp 247 đầu nắp có phễu màu đỏ; 01 túi nilong đen đựng các tập giấy màu đỏ có kích thước 75x55cm và 75x5cm; 04 hộp màng bọc thực phẩm nhãn hiệu Hoàng Yến S; 01 kéo kim loại có cán nhựa màu đen; 02 cuộn chỉ màu trắng; 01 chày gỗ màu đen dài 32cm; 01 chổi quét cán nhựa màu vàng dài 18cm; 01 dao rọc giấy màu vàng dài 16cm; 04 đũa gỗ; 03 tờ giấy màu đỏ kích thước 68x6cm; 01 tờ giấy màu đỏ 18x6cm; 01 cuộn màng bọc thực phẩm đã qua sử dụng; 01 hộp giấy màng bọc thực phẩm chưa qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- + 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu của Đặng Xuân C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ thu của Ninh Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh thu của Trương Văn Y; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu xanh thu của Bùi Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím thu của Đoàn Trung K;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển kiểm soát: 15C1-176.21 thu của Bùi Văn T1.
- Buộc bị cáo Đặng Xuân C phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng, bị cáo Ninh Văn H1 nộp lại số tiền 900.000 đồng, bị cáo Bùi Văn T1 nộp lại số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo Trương Văn Y phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng tiền do phạm tội mà có.
- Tiếp tục duy trì các Lệnh phong tỏa tài khoản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của từng bị cáo bị phong tỏa tài khoản, cụ thể:
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 442 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0335021755 mở tại ngân hàng TMCP A1 (A2) đứng tên Đặng Xuân C.
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 445 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0936602159 mở tại ngân hàng TMCP Q1 (MB) đứng tên Ninh Văn H1.
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 443 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 19030450351013 mở tại ngân hàng TMCP K2 (T9) đứng tên Trương Văn Y
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 444 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0031001180753 mở tại ngân hàng TMCP N2 (V2) đứng tên Bùi Văn T1.
Khi có bị cáo thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của mình thì Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành việc giải tỏa Lệnh phong tỏa tài khoản tương ứng cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
+ Hủy bỏ việc phong tỏa tài khoản đối với số tiền trong tài khoản 106874947048 mở tại ngân hàng TMCP C8 (V4) đứng tên Đoàn Văn Đ;
+ Huỷ bỏ việc phong tỏa tài khoản số 19038232016017 và tài khoản số 1979110203 mở tại ngân hàng TMCP K2 đứng tên Đoàn Trung K.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
[2] Lời khai của các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định:
[3] Bị cáo Đặng Xuân C thực hiện hành vi chuẩn bị dụng cụ, nguyên liệu, pha trộn, sản xuất pháo nổ và bán 13,65 kg pháo nổ cho Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ với mục đích hưởng lợi, cụ thể: bán 6,16 kg pháo nổ cho Ninh Văn H1 để H1 bán lại cho K vào ngày 31/12/2023; 5,87 kg pháo nổ bán cho Đoàn Văn Đ ngày 02/01/2024; 1,62 kg pháo nổ thu tại nhà của C.
[4] Bị cáo Ninh Văn H1 đã thực hiện hành vi giúp bị cáo Đặng Xuân C cuộn vỏ pháo trong quá trình sản xuất 13,65 kg pháo nổ, đồng thời bị cáo H1 còn bán trái phép cho Văn Đ 3,57 kg pháo nổ với mục đích hưởng lợi, tổng khối lượng pháo nổ H1 đã giúp sức để sản xuất và trực tiếp bán là: 17,22 kg.
[5] Các bị cáo Đoàn Văn Đ và Trương Văn Y thống nhất ý chí thực hiện hành vi bán 14 kg pháo nổ để hưởng lợi, trong đó Đ là người giao dịch mua pháo nổ (gồm 5,87 kg mua của Đặng Xuân C, 3,57 kg mua của Ninh Văn H1 và 4,56 kg mua của Nguyễn Tuấn A), Y là người bán pháo nổ cho khách 14kg (gồm bán cho Bùi Văn T1 12,72 kg và bán cho 01 người bạn chưa rõ lai lịch 1,28 kg).
[6] Bị cáo Bùi Văn T1 thực hiện hành vi mua của bị cáo Trương Văn Y 12,72 kg để bán lại cho người khác nhằm hưởng lợi.
[7] Bị cáo Đoàn Trung K đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 6,16 kg pháo nổ với mục đích để sử dụng.
[8] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn Hòa đồng p về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 17 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1 phạm tội Buôn bán hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, trong đó bị cáo Đoàn Văn Đ và Trương Văn Y là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Trung K phạm tội Tàng trữ hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
[9] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm nhiệm hình sự:
[10] Các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Đoàn Văn Đ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[11] Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Trung K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Ninh Văn H1, Trương Văn Y và Bùi Văn T1 đều có thời gian tham gia quân ngũ; bị cáo Đoàn Trung K có bác ruột là liệt sĩ, được tặng huân chương chiến công hạng ba nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo:
[12] Hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguồn nguy hiểm dẫn đến những vụ tai nạn gây thương tích, làm chết người do pháo nổ gây ra. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[13] Về nhân thân: Các bị cáo cáo Đặng Xuân C, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bị cáo Ninh Văn H1 nhân thân có 01 tiền án về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mặc dù được coi là không có án tích nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Đoàn Văn Đ có 01 tiền án chưa được xoá án đã xác định là tái phạm nhưng cũng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.
- Về vai trò phạm tội và quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[14] Trong vụ án này, bị cáo Đặng Xuân C và Ninh Văn Hòa đồng p, bị cáo Đoàn Văn Đ và Trương Văn Y là đồng phạm còn lại các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có sự bàn bạc thống nhất ý chí, cụ thể như sau:
[15] Đối với bị cáo Đặng Xuân C và Ninh Văn H1: Các bị cáo đồng phạm trong hành vi sản xuất và bán 13,65 kg pháo nổ. Bị cáo Chung giữ vai trò chính, là người trực tiếp mua nguyên liệu, sản xuất và buôn bán 13,65 kg pháo nổ; bị cáo H1 giữ vai trò thứ yếu là người giúp sức cho C trong việc cuộn pháo nổ. Tuy nhiên ngoài việc giúp sức cho C trong việc cuộn 13,65 kg pháo nổ, bị cáo H1 còn thực hiện hành vi buôn bán 3,57 kg pháo nổ độc lập không liên quan đến C, nhân thân bị cáo có 01 lần vi phạm pháp luật; bị cáo H1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo Chung. Vì vậy đối với cả hai hành vi sản xuất và buôn bán pháo nổ, cần ấn định mức hình phạt của bị cáo Chung và H1 gần tương đương nhau, trong đó hình phạt của bị cáo Chung cao hơn bị cáo H1.
[16] Đối với bị cáo Đoàn Văn Đ và Trương Văn Y: Các bị cáo thống nhất ý chí trong hành vi buôn bán 14kg pháo nổ, hai bị cáo có vai trò tích cực ngang nhau: Bị cáo Đ là người giao dịch mua pháo nổ về để bán, bị cáo Y là người trực tiếp bán pháo nổ, các bị cáo thoả thuận việc phân chia lợi nhuận là ngang nhau. Tuy nhiên bị cáo Y có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo Đ, nhân thân bị cáo Đ có 01 tiền án chưa xoá án bị xác định là tái phạm. Vì vậy cần ấn định mức hình phạt của bị cáo Đ cao hơn bị cáo Y trong đồng phạm.
[17] Ngoài ra, mặc dù bị cáo Đ và H1 không phải là đồng phạm nhưng so sánh về mức độ nguy hiểm hành vi của hai bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần ấn định mức hình phạt của bị cáo Đ ngang với bị cáo H1.
[18] Đối với bị cáo Bùi Văn T1, bị cáo thực hiện hành vi buôn bán 12,72kg pháo nổ là ít hơn so với các bị cáo khác nên mức hình phạt của bị cáo T1 thấp nhất trong các bị cáo cùng tội danh “Buôn bán hàng cấm” (gồm có bị cáo Đ, Y, T1).
[19] Về loại hình phạt: Đối với các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1 là những người thực hiện hành vi sản suất; buôn bán pháo nổ nên cần phải áp dụng hình phạt tù cải tạo tại cơ sở giam giữ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương với mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
[20] Riêng bị cáo Đoàn Trung K thực hiện hành vi tàng trữ 6,16 kg hàng cấm (pháo nổ) là ít nguy hiểm nhất so với các bị cáo khác. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi thường trú rõ ràng; có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bản thân đang là sinh viên. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần cho bị cáo hưởng án theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
[21] Các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 190, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
- Về biện pháp ngăn chặn:
[22] Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Trung K theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
[23] Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau do đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT1/PC09 bên trong có 0,29 kg bột Natri Benzoat (C6H5COONA); 1,66 kg bột Lưu huỳnh; 2,28 kg bột Kali Clorat (KCLO3); 2,51 kg bột Kali Nitrat (KNO3); 0,7 kg bột Carbon; 0,5 kg bột thuốc pháo nổ; 1,76 kg hạt D (Cát); 0,93 kg pháo của mẫu số 9 và 3,87 kg pháo của mẫu số 10 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT2/PC09 bên trong có 5,79 kg pháo của mẫu số 11 và 5,2 kg pháo của mẫu số 12 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số 134CN/PC09 bên trong có 0,04 kg bột Lưu huỳnh; 01 phễu nhựa màu trắng; 01 bát nhựa hình tròn, đường kính 15cm; 01 bát sứ đường kính 10cm; 01 nồi inox có tay cầm, đường kính 18cm; 0,04 kg dây cháy chậm; 01 sàng lọc cầm tay bằng nhựa màu xanh; 01 bát nhựa màu trắng đường kính 15cm còn lại sau giám định;
- + 01 lọ keo 502; 10 lọ keo nhãn hiệu Thiên Long; 23 vỏ tút pháo cuộn giấy màu đỏ, kích thước mỗi quả dài 5,4cm; 01 chai nhựa vỏ chữ WakeUp 247 đầu nắp có phễu màu đỏ; 01 túi nilong đen đựng các tập giấy màu đỏ có kích thước 75x55cm và 75x5cm; 04 hộp màng bọc thực phẩm nhãn hiệu Hoàng Yến S; 01 kéo kim loại có cán nhựa màu đen; 02 cuộn chỉ màu trắng; 01 chày gỗ màu đen dài 32cm; 01 chổi quét cán nhựa màu vàng dài 18cm; 01 dao rọc giấy màu vàng dài 16cm; 04 đũa gỗ; 03 tờ giấy màu đỏ kích thước 68x6cm; 01 tờ giấy màu đỏ 18x6cm; 01 cuộn màng bọc thực phẩm đã qua sử dụng; 01 hộp giấy màng bọc thực phẩm chưa qua sử dụng;
[24] Tịch thu sung quỹ nhà nước các điện thoại và xe mà các bị cáo sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, bao gồm:
- + 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu của Đặng Xuân C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ thu của Ninh Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh thu của Trương Văn Y; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu xanh thu của Bùi Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím thu của Đoàn Trung K;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển kiểm soát: 15C1-176.21 thu của Bùi Văn T1.
[25] Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có, cụ thê: Bị cáo Đặng Xuân C phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng, bị cáo Ninh Văn H1 nộp lại số tiền 900.000 đồng, bị cáo Bùi Văn T1 nộp lại số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo Trương Văn Y phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng.
[26] Căn cứ quy định tại Điều 129, Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tiếp tục duy trì các Lệnh phong tỏa tài khoản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị cáo đã bị phong tỏa tài khoản mà có nghĩa vụ nộp lại tiền do phạm tội mà có, tiền thu lợi bất chính; riêng đối với bị cáo Đ và bị cáo K cần hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[27] Trong vụ án này, anh Vũ Văn T4 là người điều khiển xe mô tô BKS: 15C1-176.21 chở Bùi Văn T1 ngày 02/01/2024 không biết T1 mang pháo nổ đi bán; anh Nguyễn Long V là nhân viên công ty H7 không biết C mua KCL, lưu huỳnh về sản xuất pháo nổ nên không có căn cứ xử lý anh Vũ Văn T4 và anh Nguyễn Long V.
[28] Đối tượng Nguyễn Tuấn A là người Đức khai đã bán pháo cho Đ ngày 02/01/2024; các đối tượng Nguyễn Thanh T8, Nguyễn Văn V1 là người H1 khai đã bán pháo nổ cho H1 trước đó, hiện Tuấn A và T8 không có mặt ở địa phương, V1 bị tai nạn nghiêm trọng tổn thương vùng đầu, tay chân, tinh thần không tỉnh táo nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Đối tượng tên T5 là người mua pháo nổ của T1, H6 là người mua pháo nổ của H1, hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 900 ngày 28/3/2024 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[29] Đối với việc sản xuất, buôn bán pháo nổ trước đó của các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1 Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
- Về án phí:
[30] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[31] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo H1, Y, T1; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo Đ); áp dụng thêm các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Chung, H1, Đ, Y; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Trung K:
Tuyên bố:
+ Các bị cáo: Đặng Xuân C, Ninh Văn H1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”
+ Các bị cáo: Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
+ Bị cáo Đoàn Trung K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt:
+ Bị cáo Đặng Xuân C 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.
+ Bị cáo Ninh Văn H1 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.
+ Bị cáo Đoàn Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.
+ Bị cáo Trương Văn Y 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.
+ Bị cáo Bùi Văn T1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.
+ Bị cáo Đoàn Trung K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Trung K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo”.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
”.
- Về biện pháp ngăn chặn: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Trung K theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT1/PC09 bên trong có 0,29 kg bột Natri Benzoat (C6H5COONA); 1,66 kg bột Lưu huỳnh; 2,28 kg bột Kali Clorat (KCLO3); 2,51 kg bột Kali Nitrat (KNO3); 0,7 kg bột Carbon; 0,5 kg bột thuốc pháo nổ; 1,76 kg hạt D (Cát); 0,93 kg pháo của mẫu số 9 và 3,87 kg pháo của mẫu số 10 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số: 06CNT2/PC09 bên trong có 5,79 kg pháo của mẫu số 11 và 5,2 kg pháo của mẫu số 12 còn lại sau giám định;
- + 01 hộp giấy dấu niêm phong số 134CN/PC09 bên trong có 0,04 kg bột Lưu huỳnh; 01 phễu nhựa màu trắng; 01 bát nhựa hình tròn, đường kính 15cm; 01 bát sứ đường kính 10cm; 01 nồi inox có tay cầm, đường kính 18cm; 0,04 kg dây cháy chậm; 01 sàng lọc cầm tay bằng nhựa màu xanh; 01 bát nhựa màu trắng đường kính 15cm còn lại sau giám định;
- + 01 lọ keo 502; 10 lọ keo nhãn hiệu Thiên Long; 23 vỏ tút pháo cuộn giấy màu đỏ, kích thước mỗi quả dài 5,4cm; 01 chai nhựa vỏ chữ WakeUp 247 đầu nắp có phễu màu đỏ; 01 túi nilong đen đựng các tập giấy màu đỏ có kích thước 75x55cm và 75x5cm; 04 hộp màng bọc thực phẩm nhãn hiệu Hoàng Yến S; 01 kéo kim loại có cán nhựa màu đen; 02 cuộn chỉ màu trắng; 01 chày gỗ màu đen dài 32cm; 01 chổi quét cán nhựa màu vàng dài 18cm; 01 dao rọc giấy màu vàng dài 16cm; 04 đũa gỗ; 03 tờ giấy màu đỏ kích thước 68x6cm; 01 tờ giấy màu đỏ 18x6cm; 01 cuộn màng bọc thực phẩm đã qua sử dụng; 01 hộp giấy màng bọc thực phẩm chưa qua sử dụng;
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- + 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu của Đặng Xuân C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ thu của Ninh Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu của Đoàn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh thu của Trương Văn Y; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu xanh thu của Bùi Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím thu của Đoàn Trung K;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển kiểm soát: 15C1-176.21 thu của Bùi Văn T1.
- Buộc bị cáo Đặng Xuân C phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng, bị cáo Ninh Văn H1 nộp lại số tiền 900.000 đồng, bị cáo Bùi Văn T1 nộp lại số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo Trương Văn Y phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng).
- Tiếp tục duy trì các Lệnh phong tỏa tài khoản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của từng bị cáo bị phong tỏa tài khoản, cụ thể:
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 442 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0335021755 mở tại ngân hàng TMCP A1 (A2) đứng tên Đặng Xuân C.
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 445 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0936602159 mở tại ngân hàng TMCP Q1 (MB) đứng tên Ninh Văn H1.
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 443 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 19030450351013 mở tại ngân hàng TMCP K2 (T9) đứng tên Trương Văn Y
- + Lệnh phong tỏa tài khoản số 444 ngày 22/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đối với số tiền trong tài khoản 0031001180753 mở tại ngân hàng TMCP N2 (V2) đứng tên Bùi Văn T1.
Khi có bị cáo thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của mình thì Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành việc giải tỏa Lệnh phong tỏa tài khoản tương ứng cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Hủy bỏ việc phong tỏa tài khoản đối với số tiền trong tài khoản 106874947048 mở tại ngân hàng TMCP C8 (V4) đứng tên Đoàn Văn Đ;
- Huỷ bỏ việc phong tỏa tài khoản số 19038232016017 và tài khoản số 1979110203 mở tại ngân hàng TMCP K2 đứng tên Đoàn Trung K.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo Đặng Xuân C, Ninh Văn H1, Đoàn Văn Đ, Trương Văn Y, Bùi Văn T1, Đoàn Trung K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (sản xuất, buôn bán, tàng trữ hàng cấm)
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sản xuất, buôn bán, tàng trữ hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trung và đồng bọn
