Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

Bản án số: 126/2025/HS-ST

Ngày: 29 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Hưng

2. Bà Hoàng Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Huy Q, sinh ngày 12/02/1988

Nơi cư trú: thôn M, xã V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Huy K, sinh năm 1961 và bà: Phạm Thị H, sinh năm 1963; vợ: Đặng Minh N, sinh năm 2000; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/9/2025 đến ngày 18/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh H.

(Trích xuất có mặt tại phiên toà)

Người chứng kiến:

  • + Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1981
  • + Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1975

Cùng trú tại: thôn T, xã V, tỉnh Hưng Yên.

(Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Phạm Huy Q đi bộ lên đê sông H sau đó đi nhờ xe của một người nam giới không quen biết đến chân cầu T, thuộc địa phận xã T, tỉnh Hưng Yên, mục đích mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, Q gặp và mua 03 gói ma túy, được gói bằng giấy màu vàng của một người nam giới khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 700.000 đồng. Q cầm ma túy cất giấu vào túi áo chống nắng phía trước bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe của một người không quen biết về khu vực thôn M, xã V rồi xuống xe, đi bộ, tìm nơi sử dụng. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Q đi đến khu vực đường B thuộc thôn M, xã V, tỉnh Hưng Yên, bị tổ công tác Công an xã V, tỉnh Hưng Yên phát hiện có nghi vấn liên quan đến ma túy, yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1981 và anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1975 cùng trú tại: thôn T, xã V, tỉnh Hưng Yên, Q tự nguyện lấy từ túi áo chống nắng phía trước bên trái giao nộp cho tổ công tác 03 gói giấy màu vàng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng, Q khai nhận đó là ma tuý, loại H2 mua về cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Phạm Huy Q và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã V, tỉnh Hưng Yên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu liệu theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Huy Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Huy Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 16/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,1698 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm chín mươi tám gam). Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Huy Q cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSKV5 ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên truy tố Phạm Huy Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Phạm Huy Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã V, tỉnh Hưng Yên lập ngày 12/9/2025 (bút lục số 01, 02, 05).
  • Kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 16/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H (bút lục số 15).

Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 12/9/2025, tại khu vực đường B thuộc thôn M, xã V, tỉnh Hưng Yên; Phạm Huy Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1698 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm chín mươi tám gam) ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an xã V, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Phạm Huy Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Huy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù động cơ phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về nhân thân: Bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo nên được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lần đầu phạm tội, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, không có mục đích bán kiếm lời nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua số ma túy trên của một người nam giới khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 700.000 đồng tại khu vực cầu T, xã T, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1698 gam ma túy, loại Heroine, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1354 gam (không phẩy một nghìn ba trăm năm mươi tư gam) và bao gói quản lý của Phạm Huy Q trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1231/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H, xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;

[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Huy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), phạt bị cáo Phạm Huy Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/9/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0,1354 gam (không phẩy một nghìn ba trăm năm mươi tư gam) và bao gói quản lý của Phạm Huy Q trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1231/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H

(Vật chứng đang được quản lý tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên. Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 05/12/2025 giữa bên giao là Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H và bên nhận là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Huy Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Huy Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 5 – Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 126/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép CMT, BLHS sửa đổi năm 2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger