Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/DS-PT

Ngày: 28 tháng 5 năm 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất, tháo dỡ công trình kiến

trúc trên đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong.

Các Thẩm phán: bà Nguyễn Ngọc Giao và bà Đào Nữ Ngọc Lan.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 374/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 52/TB-TA ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Trần Thanh T, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1961; nơi cư trú: tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Trần Thanh P (D), sinh năm 1965 (chết ngày 13/02/2024)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P gồm:

  • Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (có mặt);
  • Bà Trần Thị Chi T2, sinh năm 1990 (có mặt);
  • Cháu Trần Thị Yến T3, sinh năm 2008 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà T1, bà T2, cháu T3: bà Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (Theo Văn bản ủy quyền ngày 26/8/2024) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1963 (vắng mặt);
  • Bà Trần Thị Mỹ T5, sinh năm 1983 (vắng mặt);
  • Ông Trần Hoàng T6, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  • Ông Trần Anh T7, sinh năm 1998 (vắng mặt);
  • Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1936 (đã chết);
  • Cháu Nguyễn Trần Bảo Đ, sinh năm 2006 (vắng mặt);
  • Cháu Trần Thị Thúy V, sinh năm 2009 (vắng mặt);
  • Cháu Trần Bảo T8, sinh năm 2017 (vắng mặt);
  • Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (có mặt);
  • Bà Trần Thị Chi T2, sinh năm 1990 (có mặt);
  • Cháu Trần Thị Yến T3, sinh năm 2008 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Mỹ T5, ông Trần Hoàng T6 và ông Trần Anh T7 là: ông Trần Hoàng L (Đ1), sinh năm 1961; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Thị Yến T3: bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Trần Bảo Đ: bà Trần Thị Mỹ T5, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Thị Thúy V, Trần Bảo T8: ông Trần Hoàng T6, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Thanh T trình bày:

Năm 2007, ông được cha mẹ ông tặng cho diện tích 1.368m² (trong đó: 800m² đất ở, 568m² đất trồng cây lâu năm) và ông đã được cấp quyền sử dụng đất diện tích 1.368m² theo Giấy chứng quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: H00600bF do Ủy ban nhân dân huyện C ký ngày 22/9/2007, đối với thửa đất số 3, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.368m² tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Khi cha mẹ của ông còn sống có cho ông Trần Hoàng L và ông Trần Thanh P xây dựng nhà ở trên diện tích đất này. Ông L và ông P hứa khi nào có điều kiện sẽ di dời nhà, trả lại đất. Nay cha mẹ ông đã chết và diện tích đất này là thuộc quyền sử dụng của ông. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông L và ông P di dời nhà để trả lại đất cho ông nhưng ông L và ông P không đồng ý.

Ông Trần Hoàng L cho rằng ông L được cha mẹ cho và xây dựng nhà ở trên diện tích đất 274,4m² tại các điểm 45, 53, 48, 9, 27, 26, 30, 51, 52, 54, 20 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 thì ông Trần Thanh T không đồng ý. Ông Trần Thanh T yêu cầu ông Trần Hoàng L và các thành viên đang sinh sống trong nhà trả lại cho ông diện tích đất 274,4m² tại các điểm 45, 53, 48, 9, 27, 26, 30, 51, 52, 54, 20 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024, (trong đó: đối với căn nhà chính thì yêu cầu hoàn trả giá trị đất, còn lại thì phải tháo dỡ, di dời các công trình trên đất); tháo dỡ, di dời công trình trên diện tích đất 3,5m² và trả lại diện tích đất 3,5m² tại các điểm 23, 24, 51, 52 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024.

Ông Trần Thanh P cho rằng ông P được cha mẹ cho và xây dựng nhà ở trên diện tích đất 105,7m² tại các điểm 2, 40, 7, 5 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 27/10/2024 và ngày 03/5/2024 thì ông Trần Thanh T không đồng ý. Ông Trần Thanh T yêu cầu người thừa kế của ông Trần Thanh P và các thành viên đang sinh sống trong nhà phải trả lại cho ông diện tích đất 105,7m² tại các điểm 2, 40, 7, 5 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 (trong đó: đối với căn nhà chính thì yêu cầu hoàn trả giá trị đất, còn lại thì phải tháo dỡ, di dời các công trình trên đất).

*Bị đơn ông Trần Hoàng L trình bày:

Năm 1982, cha mẹ ông có cho vợ chồng ông xây dựng nhà ở từ đó cho đến nay, vợ chồng ông đã sửa chữa nhà 02 lần, cha mẹ đều biết và ông T cũng biết. Cha mẹ cho xây dựng nhà ở không thời hạn, nhưng không có giấy tờ. Tại thời điểm cha mẹ cho xây dựng nhà thì cha mẹ ông là người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến khi cha mẹ trên 60 tuổi mới làm thủ tục tặng cho ông T. Khi ký tên cho ông T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không có hứa là sẽ trả đất, vì đất cha mẹ cho bấy nhiêu thì ở bấy nhiêu, ông không lấn thêm. Đất cha mẹ cho ông xây dựng nhà ở đã ở trên 37 năm nên ông không di dời nhà và trả đất. Trên diện tích đất phía trước nhà thì ông còn xây dựng một cái trại để con ông sửa xe, nay con ông không sửa nữa nhưng ông là người sửa và sử dụng mái trại này.

Nay, ông không đồng ý tháo dỡ, di dời các công trình trên đất và không đồng ý trả lại cho ông Trần Thanh T quyền sử dụng diện tích đất 274,4m² tại các điểm 45, 53, 48, 9, 27, 26, 30, 51, 52, 54, 20 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024. Ông tự nguyện tháo dỡ, di dời công trình trên diện tích đất 3,5m² để trả lại cho ông T diện tích đất 3,5m² tại các điểm 23, 24, 51, 52 Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024.

* Bị đơn ông Trần Thanh P trình bày:

Nguồn gốc đất là của cha mẹ, cha mẹ đồng ý cho ông và gia đình ông xây dựng nhà để ở hơn 20 năm nay. Năm 2007, cha mẹ ông làm thủ tục sang tên cho ông T và ông T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không có ý kiến vì cho rằng là anh em ai đứng tên cũng được.

Ông không ý tháo dỡ di dời công trình trên đất để trả lại cho ông Trần Thanh T quyền sử dụng diện tích đất 105,7m² tại các điểm 2, 40, 7, 5 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không giao nộp văn bản ghi ý kiến.

Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh T

Buộc ông Trần Hoàng L và bà Huỳnh Thị H1 hoàn trả cho ông Trần Thanh T giá trị đối với diện tích đất 164,6m² theo các điểm 53, 48, 9, 27, 19, 10, 11, 46 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024, giá trị phải hoàn trả là 1.300.000đồng/m² x 164,4m² = 213.980.000 đồng (Hai trăm mười ba triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Buộc ông Trần Hoàng L và bà Huỳnh Thị H1 tháo dỡ mái che nhà bếp (kết cấu: mái lợp tole, không vách, khung cây, nền xi măng) trên diện tích đất 39,2m² và trả lại cho ông Trần Thanh T diện tích đất 39,2m². (Diện tích đất 39,2m² theo các điểm 19, 27, 26, 25, 51, 52, 22, 21 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C).

Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Hoàng L và bà Huỳnh Thị H1 tháo dỡ mái che nhà bếp chứa củi (kết cấu: mái tole, cột gỗ, nền đất) trên diện tích đất 3,5m² và trả lại cho ông Trần Thanh T diện tích đất 3,5m² (Diện tích đất 3,5m² theo các điểm 23, 24, 51, 52 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C).

Buộc ông Trần Hoàng L và bà Huỳnh Thị H1 trả lại cho ông Trần Thanh T diện tích đất 69,8m² theo các điểm 45, 53, 46, 11, 10, 19, 21, 54, 20 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C.

Buộc ông Trần Thanh P (do người kế thừa quyền và nghĩa vụ thực hiện) và bà Nguyễn Thị T1 hoàn trả cho ông Trần Thanh T giá trị đối với diện tích đất 105,7m² theo các điểm 2, 40, 7, 5 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C, giá trị phải hoàn trả là 1.300.000đồng/m² x 105,7m² = 137.410.000 đồng (Một trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Ông Trần Hoàng L và bà Huỳnh Thị H1 được quyền sử dụng và có quyền thực hiện thủ tục hành chính về đất đai đối với diện tích đất 164,6m² theo các điểm 53, 48, 9, 27, 19, 10, 11, 46 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C.

Người thừa kế của ông Trần Thanh P và bà Huỳnh Thị H1 được quyền sử dụng và có quyền thực hiện thủ tục hành chính về đất đai đối với diện tích đất 105,7m² theo các điểm 2, 40, 7, 5 tại Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/8/2024, ông Trần Hoàng L, bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị T1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất ý kiến của ông T trình bày, không có ý kiến gì thêm.

Ông Trần Hoàng L, bà Nguyễn Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên trình bày ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận kháng cáo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về nội dung: bà Lê Thị Kim T9 đã đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 21/10/2021 với tư cách là Kiểm sát viên và vụ án đã bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang hủy bản án ngày 08/4/2022. Sau khi án bị hủy, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết lại thì bà Lê Thị Kim T9 phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nhưng bà Lê Thị Kim T9 vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng và tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai vào ngày 23/8/2024 với tư cách Kiểm sát viên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng L, bà Nguyễn Thị T1; hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Phú giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Trần Hoàng L, bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Tại phiên toà, ông L, bà T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thanh T khởi kiện yêu cầu ông Trần Hoàng L và các thành viên đang sinh sống trong nhà phải tháo dỡ, di dời các công trình trên đất và trả lại diện tích đất 274,4m² và trả lại diện tích đất 3,5m²; yêu cầu ông Trần Thanh P (do người thừa kế thực hiện) và các thành viên đang sinh sống trong nhà phải tháo dỡ, di dời các công trình trên đất và trả lại cho ông diện tích đất 105,7m² theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày 03/5/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện C.

Ngày 21/10/2021, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 21/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xác định bà Lê Thị Kim T9 đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa với tư cách Kiểm sát viên.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự có Đơn kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 58/2022/DS-PT ngày 08/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 21/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Phú giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Ngày 14/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý lại vụ án để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Đến ngày 23/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, bà Lê Thị Kim T9 tiếp tục đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa với tư cách Kiểm sát viên.

Như vậy, bà Lê Thị Kim T9 là người tiến hành tố tụng trong vụ án này với tư cách là Kiểm sát viên là thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nhưng bà Lê Thị Kim T9 vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng và tham gia trong hai phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án ngày 21/10/2021 và ngày 23/8/2024 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Trên cơ sở các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong quá trình tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung, khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết, xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.

Kháng cáo của ông Trần Hoàng L1 và bà Nguyễn Thị T1 thuộc về nội dung giải quyết vụ án sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét trong quá trình giải quyết, xét xử lại vụ án.

[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm 229/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất” giữa nguyên đơn là ông Trần Thanh T, bị đơn là ông Trần Hoàng L và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh P; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang để giải quyết, xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; trả lại cho ông Trần Hoàng L số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005994 ngày 20/9/2024 và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005995 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - CCTHADS huyện Châu Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Văn phòng; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất

  • Số bản án: 126/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Thanh T BĐ: Trần Hoàng L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger