Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

Bản án số: 126/2025/HS-PT

Ngày: 25/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Bà Đặng Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Vi Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1455/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 697/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định; nơi ĐKTT: Xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi phạm tội: Số nhà E, phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị H; có vợ là Bùi Thị T và 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011); tiền sự: Không; Tiền án:

  • - Tại Bản án số 54/2014/HSST ngày 27/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Văn Đ 36 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. (Ra trại ngày 01/5/2017);
  • - Tại Bản án số 26/2017/HSST ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Văn Đ 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Ra trại ngày 03/4/2019);
  • - Tại Bản án số 232/2020/HSST ngày 10/8/2020, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt Nguyễn Văn Đ 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Ra trại ngày 30/10/2023).

Nhân thân: Tại Bản án số 09/2020/HSST ngày 30/6/2010, Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Văn Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B – Văn phòng L, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ làm nghề thợ mộc và có mở xưởng mộc. Khoảng đầu tháng 01/2024, Đ được anh T1 Cẩm Hán thuê làm khuôn cửa, sửa chữa cửa gỗ cho nhà anh H3 ở số B, ngõ I, đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Trong quá trình thi công sửa chữa cửa gỗ cho nhà anh H3, Đ có sử dụng máy móc để khoan, đục đồ gỗ gây nên tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình ông Trần Văn C1 (căn nhà liền kề) nên ông C1 bức xúc, nhiều lần chửi mắng Đ. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, ông C1 ra đứng ở ngoài cửa nhà chửi Đ, rồi đi vào trong nhà. Một lúc sau, ông C1 lại ra ngoài chửi tiếp, đồng thời yêu cầu Đ phải 10 giờ mới bắt đầu được làm việc vì ngày hôm đó là ngày nghỉ (ngày chủ nhật). Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, thấy Đ vẫn đang làm việc tại nhà anh H3 nên ông C1 lại chửi: “Đ.mẹ chúng mày, chúng mày biết mấy giờ rồi không mà vẫn chưa nghỉ” thì Đ đứng trong nhà số B và nói: “Cho cháu làm nốt, mai cháu không phải sang nữa”, ông C1 không nói gì nữa và đi vào trong nhà. Sau đó, Đ hoàn thiện công việc ở nhà anh H3, rồi đi về xưởng mộc của mình để nghỉ ngơi.

Khoảng 23 giờ cùng ngày 18/01/2024, khi đang ở xưởng mộc, Đoan nghĩ lại thấy bực tức vì bị ông C1 nhiều lần chửi nên đã nảy sinh ý định phóng hỏa, đốt nhà ông C1 để trả thù. Thực hiện ý định trên, Đ lấy 01 can nhựa có dung tích 05 lít, bên trong có chứa khoảng 01 lít xăng dung môi (là loại dung môi dùng để pha loãng sơn PU, có tính chất cháy như xăng) ở trong nhà, rồi để can xăng lên phần sàn để chân xe máy nhãn hiệu SH150i màu xám đen, biển kiểm soát 29H2-240.99. Sau đó, Đ điều khiển xe máy đi đến nhà ông C1. Khi đi, Đ mặc áo khoác có mũ màu đen, quần dài màu ghi, đi một đôi dép màu đen trắng. Trên đường đi, Đ vào cửa hàng T3 ở số nhà A, đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội mua của chị Lương Thị M (chủ cửa hàng) 01 chiếc bật lửa màu đỏ nhãn hiệu “Thống Nhất” với giá 10.000 đồng. Khi đi đến đoạn ngã ba cách nhà ông C1 khoảng 50m, Đ dựng xe máy rồi cầm can xăng đi bộ về phía nhà ông C1. Đến nơi lúc khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Đ thấy cửa sắt nhà ông C1 đang khóa, xung quanh không có người đi lại. Đ dùng tay phải cầm đáy can dốc xăng dung môi trong can đổ qua khe cửa sắt vào cửa gỗ nhà ông C1 và hắt xăng dung môi vào cửa sổ và đổ xăng dung môi vào hai cánh cửa gỗ nhà ông C1 cho đến khi hết xăng trong can. Tiếp theo, Đ dùng tay trái cầm bật lửa, cúi người xuống ở bậc lên xuống cửa ra vào nhà ông C1, rồi bật châm lửa làm xăng dung môi bắt lửa bùng lên tạo nên đám cháy ở phía cửa ra vào và cửa sổ nhà ông C1. Khi ngọn lửa bùng cháy làm cho Đ bị bỏng nhẹ đầu ngón tay út trái. Sau đó, Đ vứt can xăng lại trước cửa nhà ông C1, rồi bỏ chạy ra đoạn ngã ba đầu ngõ, điều khiển xe máy đi về nhà ngủ.

Lúc này, chị Trương Thị H1 đang ngủ thì thấy ánh lửa bùng lên trước cửa nhà. Chị H1 chạy ra cửa sổ nhìn thì phát hiện trước cửa nhà ông C1 ở đối diện đang bốc cháy, nên chị H1 cùng gia đình đã hô hoán và báo tin cho gia đình ông C1 biết. Tại thời điểm này, trong nhà có 06 người gồm: ông C1, bà Nguyễn Thị Kim T2 (là vợ ông C1), anh Trần Anh H2 và anh Trần Anh Q (là hai con của ông C1), chị Hà Thị Q1 (là vợ anh Q) và cháu Trần Tuấn P (là con chị Q1) đang ngủ trong nhà. Nghe tiếng hô hoán của chị H1 và ngửi thấy mùi khét, cháy trong nhà, anh H2 đang ngủ ở tầng 2 đã hô hoán mọi người trong gia đình chạy lên tầng trên. Do lo sợ bị lửa cháy nên ông C1, bà T2 cùng chị Q1 ôm cháu P chạy lên sân thượng ở tầng 5. Còn anh H2 và anh Q chạy xuống tầng 01 để dập lửa. Lúc này, khói đã bốc qua khe cửa lan tỏa vào trong khu vực phòng khách, lửa đã bén vào miếng bìa các tông để ở sàn nhà và chuẩn bị bén vào đuôi xe máy hiệu Honda SH, biển kiểm soát 29E2-399.92 ở trong nhà. Anh H2 cùng anh Q đã thay phiên nhau dùng vòi phun nước trong nhà và múc nước hắt, phun vào cửa để dập lửa. Sau khi dập được lửa ở bên trong nhà, anh Q mở cửa ra và tiếp tục phun nước dập lửa cháy ở ngoài cửa. Một lúc sau, anh H2 và anh Q phun nước dập tắt đám cháy, không xảy ra thiệt hại về người, hai cánh cửa gỗ tầng 01 bị cháy xém hư hỏng nhẹ.

Ngày 24/01/2024, Nguyễn Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H bắt người để điều tra về hành vi Giết người.

Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định, trưng cầu định giá tài sản và điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 02 giờ 45 phút ngày 19/01/2024 thể hiện: “...Nhà 26D có mặt tiền hướng Nam, xung quanh giáp nhà dân; đối diện với số nhà B. Nhà 26D có cửa ra vào ở hướng N, dạng cửa hai lớp; lớp ngoài là cửa sắt 02 cánh mở ra ngoài có kích thước (1,25x2,30)m, phía dưới chân cửa có một số dấu vết bong tróc, phồng rộp lớp sơn. Lớp cửa trong là cửa gỗ 02 cánh mở vào trong kích thước (1,25x2,30)m, bên dưới mặt ngoài chân cửa có dấu vết bám muội đen đậm ở phía dưới và giảm dần lên trên, và đậm ở hướng Đ giảm dần về phía Tây. Giữa hai lớp cửa cách nhau 0,25m, bên trên khung cửa gỗ có ám muội đen...”.

Vật chứng vụ án: Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:

  • - Thu giữ do Nguyễn Văn Đ giao nộp: 01 chiếc bật lửa màu đỏ nhãn hiệu “Thống nhất”, 01 đôi dép màu đen trắng và 01 chiếc xe máy hiệu Honda SH 150i màu xám đen, biển kiểm soát 29H2-240.99, có số máy KF42E-1048541 và số khung RLHK4212MY000822.
  • - Thu giữ do chị Hà Thị Q1 giao nộp: 01 vỏ can nhựa màu trắng bị cháy biến dạng không rõ hình thù.
  • - Thu giữ do anh Trần Anh Q giao nộp: 01 USB có chứa đoạn video ghi lại vụ việc xảy ra ngày 18/01/2024 tại trước cửa nhà số B, ngõ I, đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Tại bản Kết luận giám định số 645/KL-KTHS ngày 16/02/2024 của V - Bộ C2 đối với phần còn lại của can nhựa đã bị nhiệt tác động cháy sun một phần lớp vỏ, than hóa, bám dính bìa cát tông như sau: “...Trong mẫu vật gửi giám định có tìm thấy dấu vết của xăng”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: “...Chi phí khắc phục thiệt hại 02 cánh cửa gỗ, kích thước (2x0,7)m, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm định giá vào tháng 01/2024 trị giá 1.100.000 đồng”.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình ông Trần Văn C1 yêu cầu Nguyễn Văn Đ phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 31/7/2024, Đ đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình ông C1 số tiền trên. Giai đoạn điều tra, ông C1 cùng bà T2, anh H2, anh Q và chị Q1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ.

Tại bản Cáo trạng số 516/CT-VKS-P2 ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người” theo các điểm 1, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 697/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm 1, n, p khoản 1 Điều 123, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo quy định tại điểm 1, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu của của vụ án, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, từ đó xử phạt bị cáo mức hình phạt 19 năm tù là tương xứng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới mặc dù bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, căn cứ Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ là có phần nghiêm khắc, vì bị hại cũng có một phần lỗi (nhiều lần chửi mắng bị cáo); tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ trong thời hạn luật định và hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản, các vật chứng thu giữ, dữ liệu camera được trích xuất tại hiện trường, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Nguyễn Văn Đ là thợ mộc được thuê sửa chữa cửa gỗ cho nhà anh Trung Cẩm H3 tại số B, ngõ I, đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Trong quá trình làm việc, nhóm thợ của Đ bị ông Trần Văn C1 (là hàng xóm của anh H3) ở số nhà B, ngõ I, đường H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội chửi nhiều lần do gây tiếng ồn trong quá trình làm việc. Trong ngày 18/01/2024, ông C1 đã 03 lần đứng trước cửa nhà chửi nhóm của Đ, dẫn đến việc Đoan bức xúc, nảy sinh ý định trả thù bằng cách phóng hỏa, đốt nhà của ông C1. Khoảng 23 giờ ngày 18/01/2024, Đ lấy 01 can nhựa có dung tích 05 lít bên trong có chứa khoảng 01 lít xăng dung môi, rồi điều khiển xe máy đi mua thêm 01 chiếc bật lửa màu đỏ nhãn hiệu “Thống Nhất”, sau đó đi đến nhà ông C1 với mục đích để đốt nhà. Khi Đ đến nơi thì lúc này, trong nhà ông C1 có 06 người gồm: ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Kim T2, anh Trần Anh H2, anh Trần Anh Q, chị Hà Thị Q1 và cháu Trần Tuấn P đang ngủ trong nhà. Đoan đã đổ xăng dung môi trong can qua khe cửa sắt vào cửa gỗ nhà ông C1 và hắt xăng dung môi vào cửa sổ nhà ông C1. Tiếp đó, Đ dùng tay trái cầm bật lửa, cúi người xuống ở bậc lên xuống cửa ra vào nhà ông C1, rồi dùng bật lửa ga châm lửa đốt nhà. Lửa cháy ở trước cửa ra vào nhà ông C1, rồi bén vào các tấm bìa các tông để trong nhà và chuẩn bị bén vào khu vực để xe máy, khói cháy lan tỏa khắp khu vực phòng khách của ngôi nhà. Lúc này, chị Trương Thị H1 (là hàng xóm ở đối diện nhà ông C1) phát hiện nên đã hô hoán và báo tin cho gia đình ông C1. Nghe tiếng hô hoán, ông C1 cùng bà T2, chị Q1 và cháu P chạy lên tầng 5 của ngôi nhà, còn anh H2 cùng anh Q chạy xuống tầng 01 dùng vòi phun nước trong nhà và múc nước hất, phun vào cửa để dập tắt đám lửa. Hậu quả vụ cháy không gây thiệt hại về người, hai cánh cửa gỗ ở tầng 01 nhà ông C1 bị cháy xém hư hỏng thiệt hại trị giá 1.100.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm 1, n, p khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy:

[4.1] Chỉ vì lý do ông C1 nhiều lần chửi bị cáo và nhóm thợ làm cùng bị cáo vì gây tiếng ồn trong quá trình thi công cửa gỗ cho nhà anh H3 mà bị cáo đã có hành vi hắt xăng vào cửa và đốt nhà ông C1 để trả thù vào thời điểm đêm khuya, thời điểm nhà ông C1 có nhiều người đang ngủ trong nhà, có khả năng làm chết nhiều người do bị cháy hoặc chết do ngạt khí; Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, đã từng bị xét xử nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện thái độ coi thường pháp luật; mặt khác, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tội phạm xảy ra, gây hoang mang trong dư luận, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân; việc các bị hại không bị tử vong là do phát hiện kịp thời và dập được lửa, nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[4.2] Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng và đầy đủ cho bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội với trẻ em là cháu Trần Tuấn P sinh năm 2023 và người già là ông Trần Văn C1 sinh năm 1954 từ 70 tuổi trở lên, đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Đại diện gia đình bị cáo là bà Bùi Thị H (mẹ bị cáo) đã bồi thường cho gia đình bị hại thay cho nghĩa vụ của bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà sơ thẩm, do bị cáo không khai báo thành khẩn nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4.3] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[4.4] Đánh giá khách quan, toàn diện vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án, trên cơ sở cân nhắc, xem xét với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mặc dù bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Giết người, nhưng chưa xảy ra hậu quả chết người và các bị hại đều không bị thương tích, bị cáo chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết “Phạm tội chưa đạt” theo quy định tại Điều 15 và Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 khi xem xét, quyết định về hình phạt; trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi khi thường xuyên chửi mắng bị cáo; mặt khác, xét thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra thực sự ăn năn hối cải về hành vi, xem xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo có bố mẹ già, các con nhỏ, vợ không có công việc ổn định thì có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, từ đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm có cơ hội trở về chăm sóc các con, phụng dưỡng bố mẹ già, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 697/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm 1, n, p khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.


Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu: HSVA, P. HCTP TANDCCHN.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 126/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger