|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày: 21/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Bà Nguyễn Thị Phương Dung
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024, đối với bị cáo:
Đặng Văn T; Sinh ngày: 26/3/1988.
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận
Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà N; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn Đ và bà Xích Thị Ầ (Đều đã chết); Vợ, con: chưa có.
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 137/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Đặng Văn T 9 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày 22/10/2021. Ngày 22/6/2023, Đặng Văn T đã chấp hành xong thời gian thử thách (chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Không.
Vợ, con: Chưa có
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Công ty TNHH MTV K – Chi nhánh B
Đại diện theo ủy quyền: Lê Quốc T1 – Phó trạm quản lý Thủy Nông B (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Văn T sinh ngày 26/3/1988; cư trú: thôn T, xã P, huyện B đã có 01 tiền án. Tại bản án số 137/2021/HS-ST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Đặng Văn T 9 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày 22/10/2021. Ngày 22/6/2023, Trương chấp hành xong thời gian thử thách. Đến ngày 17/5/2024, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận, cụ thể:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, T đang ở nhà tại thôn T, xã P, huyện B thì thấy xe mô tô 86H-9585 của Đồng Văn C (anh rể của T) để ở nhà nên T lấy xe mô tô 86H-9585 rồi điều khiển đến xã B, huyện B mục đích để trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi T điều khiển xe chạy đến đoạn kênh Đ14 do Trạm quản lý thủy nông B1 quản lý thuộc thôn A, xã B thì thấy 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét của khung điều tiết nước không có người trông coi nên Trương nảy S ý định trộm và dừng xe lại lấy trộm khung sắt có gắn một cây ty rồi bỏ lên xe mô tô 86H-9585 để chở đi bán lấy tiền tiêu xài. Trương khởi động xe mô tô nhưng xe không nổ máy nên T mới đẩy xe đi hướng từ đoạn kênh Đ14 thuộc thôn A, xã B đến điểm thu mua phế liệu thuộc thôn A, xã B để bán. Trương đẩy xe đi được một đoạn đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 17/5/2024 thì bị lực lượng Công an xã B phát hiện và thu giữ của T 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài, kích thước (180 x 90)cm được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét có kích thước 130cm. Trương khai nhận khung bằng kim loại mà T đang chở trên xe là do T vừa trộm của Trạm thủy nông, mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Lực lượng
Công an đã tiến hành lập biên bản sự việc thu giữ toàn bộ tang vật và đưa tất cả về trụ sở làm việc để xác minh làm rõ. (Búc lục số: 52-62).
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 53/2021/HĐĐG-TTHS ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận:
- 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài có kích thước (180 x 90)cm được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét có kích thước 130cm, có tổng trọng lượng là 90kg (đã cũ, bị gỉ, sét) tại thời điểm bị trộm là ngày 17/5/2024 có giá trị là 675.000đ (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)
(Bút lục: 31-36).
Về tang, vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài có kích thước (180 x 90)cm được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét có kích thước 130cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa màu tím đen, biển số 86H-9585.
Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài có kích thước (180 x 90) cm được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét có kích thước 130cm cho ông Lê Quốc T1 là đại diện ủy quyền cho chủ sở hữu theo quy đinh.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu HonDa màu tím đen, biển số 86H-9585, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đồng Văn C (sinh năm 1980, trú tại: Thôn T, xã P, huyện B) là chủ sở hữu vì ông C không biết T lấy xe làm phương tiện để đi trộm cắp.
Về phần dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản, đại diện ủy quyền cho bị hại ông Lê Quốc T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKS.HBB ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Đặng Văn T, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình luận tội đối với bị cáo Đặng Văn T tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Điểm b Khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T từ 06 đến 09 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét
Bị cáo Đặng Văn T, không tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B,Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình,Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Văn T đã thừa nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 17/5/2024, tại đoạn kênh 14 do Trạm quản lý thủy nông B1 quản lý thuộc thôn A, xã B, huyện B. Bị cáo Đặng Văn T lén lút lấy trộm 01 (một) khung bằng kim loại được sơn màu xám bên ngoài có kích thước (180 x 90) cm được gắn liền với 01 (một) cây ty bằng kim loại đã bị rỉ sét có kích thước 130cm để điều tiết nước trị giá 675.000 đồng mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu xài thì bị Công an xã B phát hiện, thu giữ tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Tuy tài sản bị trộm cắp trị giá 675.000 đồng nhưng do bị cáo Đặng Văn T có 01 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở và đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đọat tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải bị xử lý nhưng do bản chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội. Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình
trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.
[3]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Đặng Văn T đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi, giao trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo Đặng Văn T đã thành khẩn khai báo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi, giao trả cho bị hại nhưng trong vụ án này bị cáo Đặng Văn T có nhân thân xấu.Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo Đặng Văn T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4]Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[5]Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Điểm b Khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hạnh Nguyễn Thị Phương Dung |
Lâm Quốc Tuấn |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM QUỐC TUẤN |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Tr
