|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày: 18/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Lượng
- Ông Ma Quốc Thể
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 18/10/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/6/1975 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị V (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; Anh, chị, em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ sáu;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn M, sinh ngày 06/01/1974 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1935; vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1975; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất nhất sinh năm 2013; A, chị, em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ sáu;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HSST ngày 01/4/2022 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, án phí 200.000đ. Ngày 13/12/2022 chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T1, sinh năm 1975; trú tại: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 16/6/2024, Nguyễn Văn Đ đang đánh bắt tôm ở khu vực sông L thuộc xã T, huyện S thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn M hỏi mua ma tuý, Đ đồng ý. Khoảng 15 phút sau, M điều khiển xe mô tô biển số 29E1-046.12 (xe của Trần Thị T1 là vợ của M mua, nhưng chưa làm thủ tục sang tên) đến gặp và đưa cho Đ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) để mua ma tuý. Đ cầm tiền một mình đi ra khu vực ven bờ sông L thuộc xã T, huyện S mua của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ đi thuyền trên sông, được 01 gói ma tuý (loại heroine) với giá 300.000đ. Mua được ma tuý, Đ san ra một ít gói vào mảnh giấy cất giấu trong người mục đích để sử dụng cho bản thân, số ma tuý còn lại Định gói lại như cũ, bán lại cho M, sau đó M mang về nhà sử dụng hết bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý san bớt lại Đ cũng sử dụng hết bằng cách đốt hít vào cơ thể.
Khoảng 10 giờ ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn M tiếp tục gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Đ hỏi mua ma tuý, Đ đồng ý. Khoảng 15 phút sau, M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29E1-046.12 đến gặp Đ tại đoạn đường bê tông cách cổng nhà Đ khoảng 50m, M đưa cho Đ 500.000đ để mua ma tuý. Đ cầm tiền một mình đi ra khu vực bờ sông L thuộc xã T, huyện S mua của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ đi thuyền trên sông, được 01 gói ma tuý (loại heroine) được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng với số tiền 300.000đ. Đ chia gói ma tuý thành hai phần, một phần Định gói bằng giấy màu trắng có in chữ và số nhiều màu mục đích giữ lại để sử dụng cho bản thân, phần còn lại Đ gói vào một mảnh giấy màu trắng bán lại cho M. M điều khiển xe mô tô đến đoạn đường ĐH04 thuộc thôn P, xã T, huyện S thì bị Tổ công tác Công an huyện S và Công an xã T phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ cùng ngày, thu giữ 01 gói ma tuý được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng. Hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ thu giữ tại nền nhà trong buồng ngủ 01 gói ma tuý được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ và số nhiều màu. Đ khai nhận mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý trong cơ thể đối với Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn M đều có kết quả dương tính với chất ma tuý.
+ Kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nguyễn Văn M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,161g (không phẩy một sáu một gam).
+ Kết luận giám định số 832/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,135g (không phẩy một ba năm gam).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn M giám định ngày 17/6/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn Đ giám định ngày 17/6/2024"; 01 xe mô tô biển kiểm soát 29E1-046-12 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh, bên trong lắp sim số 0358065810 của Nguyễn Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp sim số 0388791244 và sim số 0865661113 của Nguyễn Văn Đ.
Cáo trạng số 123/CT-VKSSD, ngày 30/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/6/2024).
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/6/2024).
Do các bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn M giám định ngày 17/6/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn Đ giám định ngày 17/6/2024".
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp sim số 0388791244 và sim số 0865661113 của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh, bên trong lắp sim số 0358065810 của Nguyễn Văn M.
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000₫ do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
- Trả lại chị Trần Thị T1 01 xe mô tô tô biển kiểm soát 29E1- 046.12.
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[1.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn Đ: Trong các ngày 16/6/2024 và ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn Đ đã 02 lần bán trái phép ma túy (Heroine) cho Nguyễn Văn M, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 16/6/2024, tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý, loại heroine cho Nguyễn Văn M với số tiền 300.000đ.
- Lần 2: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 17/6/2024 tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn Đ tiếp tục có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý, loại heroine cho Nguyễn Văn M với số tiền 500.000₫.
Ngoài ra ngày 17/6/2024 Nguyễn Văn Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam (không phẩy một ba năm gam) ma tuý, loại heroine tại nhà ở của mình, mục đích để sử dụng cho bản thân.
[1.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M: Hồi 11 giờ ngày 17/6/2024, tại thôn P, xã T, huyện S. Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam (Không phẩy một sáu một gam) ma tuý, loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn M bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (Ngày 01/4/2022 Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/12/2022 chấp hành xong toàn bộ bản án, nhưng chưa được xóa án tích).
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho các bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn M giám định ngày 17/6/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn Đ giám định ngày 17/6/2024". Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 lần bán ma tuý cho Nguyễn Văn M thu tổng số tiền 800.000đ, đây là số tiền từ việc bán ma tuý cho M, nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp sim số 0388791244 và sim số 0865661113 của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh, bên trong lắp sim số 0358065810 của Nguyễn Văn M, là phương tiện các bị cáo dùng để giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô tô biển kiểm soát 29E1-046.12 của chị Trần Thị T2, chị T2 cho mượn, nhưng không biết việc bị cáo M sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, nên trả lại cho chị Trần Thị T2.
[5] Các vấn đề khác:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn Đ. Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Đối với người đàn ông theo lời khai của Đ là người bán ma túy cho Đ tại khu vực bờ sông thuộc xã T, huyện S, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Đối với chị Trần Thị T1, cho bị cáo M mượn xe, nhưng không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và "Mua bán trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt đối với các bị cáo:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/6/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/6/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Văn M, mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn M giám định ngày 17/6/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Văn Đ, mặt trước phong bì ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn Đ giám định ngày 17/6/2024";
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong lắp sim số 0388791244 và sim số 0865661113 của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh, bên trong lắp sim số 0358065810 của Nguyễn Văn M.
- Trả lại chị Trần Thị T1 01 xe mô tô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe wave RSX, màu trắng, đen đỏ, biển số 29E1 - 046.12, xe cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Truy thu sung quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 800.000₫ (Tám trăm nghìn đồng).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 18/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn Đ: Trong các ngày 16/6/2024 và ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn Đ đã 02 lần bán trái phép ma túy (Heroine) cho Nguyễn Văn M, cụ thể: - Lần 1: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 16/6/2024, tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý, loại heroine cho Nguyễn Văn M với số tiền 300.000đ. - Lần 2: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 17/6/2024 tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn Đ tiếp tục có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý, loại heroine cho Nguyễn Văn M với số tiền 500.000đ. Ngoài ra ngày 17/6/2024 Nguyễn Văn Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam (không phẩy một ba năm gam) ma tuý, loại heroine tại nhà ở của mình, mục đích để sử dụng cho bản thân. [1.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M: Hồi 11 giờ ngày 17/6/2024, tại thôn P, xã T, huyện S. Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam (Không phẩy một sáu một gam) ma tuý, loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
