Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Tới
  • 2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Trần Trung T Giới tính: Nam

Tên gọi khác: không.

Sinh năm 2005 tại: tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: làm thuê

Trình độ học vấn: 09/12.

Tiền án, tiền sự: không.

Quan hệ gia đình

Cha: Trần Trung Tâm S năm: 1986

Mẹ: Nguyễn Thị S1 Sinh năm: 1986

Cùng trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Anh, chị em ruột: gia đình có 02 người, bị can là con đầu trong gia đình.

Bị đang đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2024, Trần Trung T (sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đang sử dụng mạng xã hội Facebook thì thấy 01 trang Facebook có đăng hình bán súng. Do tò mò và có nhu cầu mua súng nên Tạo nhắn tin qua ứng dụng M hỏi mua súng thì được người này gửi hình ảnh 02 khẩu súng gồm 01 khẩu súng lục và 01 khẩu súng ổ quay. T hỏi mua khẩu súng ổ quay và 04 viên đạn và được báo giá 2.800.000 đồng, đặt cọc trước 50% giá trị khẩu súng thì T đồng ý mua súng. T đi ra dịch vụ chuyển tiền và chuyển vào số tài khoản ngân hàng N (A) do người này cung cấp số tiền 1.400.000 đồng rồi cung cấp thông tin, địa chỉ và số điện thoại nhận hàng của T cho đối tượng này gửi súng về. Khoảng 03 ngày sau, khi đang ở nhà thuộc thôn T, xã T, huyện H, T nhận được 01 hộp hàng qua dịch vụ giao, nhận hàng và thanh toán số tiền còn lại là 1.400.000 đồng. Khi mở gói hàng ra bên trong có 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen dài 19cm, hai bên nòng súng có ghi chữ: “ON 357, PYTHO, MADE IN CHINA” và 04 viên đạn, đầu đạn màu đen, thân đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có ký hiệu C. Sau khi kiểm tra súng, T mang khẩu súng và 04 viên đạn cất giấu trong tủ quần áo của mình. (bút lục:65,66, 85-87)

Khoảng 23 giờ 00 ngày 16/3/2024, khi đang ở nhà thì Trần Lê B (sinh năm 2006, trú phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) gọi cho Trần Trung T qua ứng dụng Messenger nhờ T đi đánh nhau thì T đồng ý. T lấy khẩu súng, 04 viên đạn nêu trên giấu vào phía trước lưng quần rồi đi bộ đến nhà Nguyễn Chí H (tên thường gọi là G, sinh năm 2003) tại xã T, huyện H, nhờ H chở T đi. H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision chở T đến nhà Lê Chí V (sinh năm 2007) tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và rủ V đi đánh nhau thì V đồng ý. H điều khiển xe chở T, V cùng đi đến khu công nghiệp P thì gặp Trần Lê B cùng với 12 đối tượng khác cầm hung khí để chuẩn bị đi đánh nhau. Nhóm của Trần Trung T trên đường điều khiển xe đi đến thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì dừng lại trước nhà ông Trần Ngọc V1 (sinh năm 1981) tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận rồi cả nhóm cầm theo hung khí chạy vào sân và bên hông nhà ông V1 la hét, đập cửa để tìm người có mâu thuẫn với B để đánh nhưng không có ai nên quay ra điều khiển xe chạy về lại thành phố P và giải tán. Tạo về nhà thì mang khẩu súng và đạn ra cất lại vào trong tủ quần áo. Sau khi mua được súng, T bị mất điện thoại nên các dữ liệu liên quan đến mua súng đều bị mất không khôi phục được. Quá trình T cất giữ súng tại nhà T không nói cho ai trong gia đình biết. (bút lục:93-101, 102-107; 108-110)

Vào lúc 02 giờ 00 ngày 17/3/2024, ông Trần Ngọc V1 trình báo sự việc đến Công an xã H, huyện H về việc nhóm đối tượng đến trước nhà ông đập phá, la hét. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H mời Trần Trung T lên làm việc thì T đến Công an xã T, huyện H trình diện, giao nộp 01 khẩu súng và 04 viên đạn và khai nhận hành vi phạm tội. (bút lục: 01, 03)

Kết luận giám định số 2176/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh: “1. Khẩu súng gửi giám định là vũ khí chế tạo thủ công dùng để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5)mm. Khẩu súng nêu trên có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc nhóm vũ khí quân dụng; 2. 04 (bốn) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5)mm không phải vũ khí quân dụng”. (bút lục 42).

Vật chứng vụ án: 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen dài 19cm, hai bên nòng súng có ghi chữ: “ON 357, PYTHO, MADE IN CHINA”; 02 viên đạn, đầu đạn màu đen, thân đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có ký hiệu C (02 viên đạn còn lại đã sử dụng để bắn thực nghiệm khi giám định, không hoàn trả lại sau giám định). Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định chuyển các vật chứng nêu trên đến Kho vật chứng- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận để đảm bảo việc xử lý.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSBT-P2 ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Trần Trung T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung tại cáo trạng số 40/CT-VKSBT-P2 ngày 01/10/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 304, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T từ 15 đến 18 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã nêu. Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó xác định: Vào khoảng tháng 01/2024, bị cáo Trần Trung T đã lên ứng dụng mạng xã hội Facebook và đặt mua 01 khẩu súng ổ quay, 04 viên đạn với giá 2.800.000 đồng. Sau khi thỏa thuận mua, bán, bị cáo T chuyển trước tiền cọc cho người bán 1.400.000 đồng và nhận được 01 hộp hàng, bên trong chứa 01 khẩu súng ổ quay và 04 viên đạn và thanh toán số tiền còn phải trả là 1.400.000 đồng. Sau khi kiểm tra súng, đạn, bị cáo T cất giữ trong tủ quần áo trong nhà của mình. Đến khoảng 23 giờ 00 ngày 16/3/2024, bị cáo T mang khẩu súng trên cùng với 14 đối tượng đi đến nhà ông Trần Ngọc V1 tại thôn F, xã H, huyện H la hét, đập cửa để tìm người đánh nhau nhưng không được nên bị cáo mang khẩu súng, 04 viên đạn về cất trong tủ quần áo trong nhà. Ngày 17/3/2024, khi được Cơ quan công an mời lên làm việc, bị cáo T mang khẩu súng và 04 viên đạn giao nộp cho cơ quan chức năng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Vũ khí quân dụng là đối tượng được Nhà nước quản lý chặt chẽ để bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ vũ khí quân dụng mà không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về sản xuất, quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu và gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng chống tội phạm trong xã hội.

[4]. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về xử lý vật chứng: 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen dài 19cm, hai bên nòng súng có ghi chữ: “ON 357, PYTHO, MADE IN CHINA”; 02 viên đạn, đầu đạn màu đen, thân đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có ký hiệu C không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung T 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen dài 19cm, hai bên nòng súng có ghi chữ: “ON 357, PYTHO, MADE IN CHINA”; 02 viên đạn, đầu đạn màu đen, thân đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có ký hiệu C.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Về án phí: Căn cứ điểm a, điểm c, điểm g khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKS nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan THA hình sự CA Hàm Thuận Bắc;
  • - CQ CSĐT CA Hàm Thuận Bắc;
  • - Nhà tạm giữ CA Hàm Thuận Bắc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung Tạo phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger