Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 14-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Hiến

Ông Tạ Văn Doanh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Xuân H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Con ông Giáp Xuân Đ, sinh năm 1943 và con bà Trịnh Thị T, sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2024. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú (Có mặt).

* Bị hại: Ông Vũ Đức M, sinh năm 1978 (Đã chết)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Ông Vũ Đức T1, sinh năm 1955
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  3. Bà Vũ Thị M1, sinh năm 1955
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  5. Chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1985
  6. Địa chỉ: Số nhà D, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  7. Cháu Vũ Phương M2, sinh năm 2010
  8. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  9. Cháu Vũ Đức M3, sinh năm 2012
  10. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Phương M2 và cháu Vũ Đức M3: Chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số nhà D, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Ông Vũ Đức T1, bà Vũ Thị M1, cháu Vũ Phương M2, cháu Vũ Đức M3 uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị Thúy H1 tham gia tố tụng) (Có đơn xin xét xử văng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty trách nhiệm hữu hạn H2

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn T2 – Giám đốc.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tuấn M4, sinh năm 1974 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người làm chứng:

  1. Ông Trịnh Tiến T3, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Phượng Khanh, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

  3. Anh Đàm Văn N1, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giáp Xuân H, sinh năm 1982, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 22/12/2020. Khoảng 19 giờ ngày 06/6/2024, H điều khiển xe ô tô chở khách, nhãn hiệu FORD, màu ghi vàng, loại xe 16 chỗ, biển kiểm soát 98B-01381 của Công ty TNHH H2 (Địa chỉ ở Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L) đi trên Q, hướng thành phố B đi huyện L. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đi đến Km 29 + 750, Quốc lộ C thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L là nơi có biển báo khu vực đông dân cư và biển báo có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng H không chú ý quan sát và không giảm tốc độ, dẫn đến xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với anh Vũ Đức M, sinh năm 1978, trú quán thôn P, xã P, huyện L đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường, hướng huyện L đi thành phố B. Sau khi va chạm, anh M ngã xuống đường bị thương tích, được H và người dân gần đó đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên do thương tích nặng, anh M đã tử vong vào hồi 00 giờ 58 phút ngày 07/6/2024.

Ngày 07/6/2024, Giáp Xuân H đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L trình diện và giao nộp Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...]. Tiến hành đo nồng độ cồn và test nước tiểu của H, kết quả trong cơ thể Hạ không có nồng độ cồn, không có chất gây nghiện.

Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L, là đoạn đường thẳng, phẳng, bề mặt đường trải nhựa áp phan, chiều rộng lòng đường là 11m. Mặt đường có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường thành hai chiều di chuyển; là đoạn đường trong khu vực đông dân cư. Hai bên lòng đường là lề đường bằng bê tông xi măng và nắp cống thoát nước. Lấy cột mốc ký hiệu H8/29 làm mốc. Lấy mép đường phải chiều đường L đi S làm chuẩn. Tại vị trí kí hiệu số (1) là chiếc dép da bên phải, cách mép chuẩn 7,8m, cách mốc 16,9m. Tại vị trí kí hiệu số (2) là chiếc dép da bên trái, cách mép chuẩn 11m, cách mốc 15,2m. Tại vị trí kí hiệu số (3) là dấu vết máu kích thước trên diện (0,5 x 0,4)m, tâm vết cách mép chuẩn 3,5m, cách mốc 7m; cách vị trí số (1) là 10,5m.

Xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381 trong trạng thái đỗ, đầu xe hướng Sơn Động. T4 trục trước bên phải cách mép chuẩn 0,53m, cách mốc 17,5m. T4 trục sau bên phải cách mép chuẩn 0,56m, cách mốc 13,75m; tâm trục sau bên trái xe cách mép chuẩn 2,45m, cách mốc 14,15m; cách tâm vết số (3) là 18,2m. Cơ quan điều tra đã thu mẫu máu tại vị trí số (3); tạm giữ 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381, thẻ nhớ Camera hành trình của xe ô tô.

Ngày 08/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất camera an ninh được lắp trước cổng Trường THPT L số 3 (khu vực xảy ra tai nạn) có ghi lại hình ảnh vụ tai nạn xảy ra từ thời gian 19 giờ 24 phút 01 giây đến 19 giờ 25 phút 15 giây ngày 06/6/2024.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm phương tiện là xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381, xác định có các dấu vết sau: Nắp capo trước của xe bị cong vênh, móp méo theo hướng từ ngoài vào trong trên diện (57 x 47)cm; trên nắp Capo tại vị trí cong vênh có vết mài trượt màu đen kích thước (15 x 10) cm. Tại góc bên trái của nắp C bị cong vênh, bật ra khỏi vị trí ban đầu. Tại Ca lăng có vết trầy xước nhựa màu đen, kích thước (1 x 1) mm; có vết vỡ nhựa trên mặt Ca lăng theo hướng từ trong ra ngoài có chiều dài 3cm. Tại dàn cục nóng điều hòa phía bên trong mặt Ca lăng có vết lõm kim loại có kích thước (7 x 2)cm. Tại cản dưới phía trước xe ô tô có vết bong tróc sơn kích thước (2 x 1,5)cm và 01 vết bong tróc sơn ở góc bên trái kích thước (2 x 1)cm. Góc dưới bên trái biển số xe phía trước bị cong vênh theo chiều từ ngoài vào trong.

Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám nghiệm tử thi Vũ Đức M, ghi nhận các dấu vết sau:

  • Khám ngoài: Vùng đầu tóc để trung bình, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn co, bầm tím xung quanh hốc mắt phải, hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu đông lẫn không đông. Cung mày mắt phải có diện sây sát rách ra, bờ mép nham nhở sâu đến xương kích thước (5 x 3,5)cm; gò má, mũi và vùng mặt hai bên có diện sây sát da kích thước (15 x 13)cm. Vùng ngực có diện xây sát bầm tím da kích thước (22 x 20)cm. Mặt trước cánh tay và cẳng tay phải có diện sây sát da bầm tím, kích thước (26 x 14)cm. Mặt trước gối phải có diện sây sát da, bầm tím kích thước (11 x 10)cm. Mặt trước gối trái có diện sây sát da kích thước (5 x 4)cm. Mặt trước trong cẳng tay trái có diện bầm tím da kích thước (3 x 7)cm. Mặt mu cổ tay và bàn tay trái có diện sây sát da bầm tím da kích thước (13 x 8)cm; mặt trước ngoài 1/3 trên đùi trái có vết sây sát da kích thước (3,5 x 5)cm. Vùng lưng phải và mạn sườn phải có diện sây sát da bầm tím da kích thước (15 x 6)cm. Mặt sau khuỷu tay phải có diện sây sát, bầm tím da kích thước (7x 6)cm. Mặt mu bàn chân phải có vết sây sát da kích thước (1,5 x 1)cm.
  • Mổ tử thi: giải phẫu qua tổn thương vùng trán cung mày phải thấy: bầm dập tổ chức dưới da. Đường vỡ xương trán và trần hốc mắt phải. Thu giữ mẫu máu của tử thi Vũ Đức M để phục vụ giám định.

Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y số 862/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định nguyên nhân dẫn đến tử vong của anh Vũ Đức M. Tại kết luận số 1484/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Vũ Đức M do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt; chấn thương bụng kín.

Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện trong vụ tai nạn giao thông đường bộ. Vị trí va chạm giữa người đi bộ với phương tiện trên mặt đường. Tốc độ của phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại Kết luận giám định số 1518 ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Dấu vết lõm, chùn cong kim loại, trượt xước sơn nhựa, in hằn các đường song song dạng vân vải, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài bên trái ba đờ sốc trước và bên trái nắp ca pô trước của xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381, được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người) mặc quần áo tạo nên. Không xác định được chiều hướng chuyển động và vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98B1-013.81 với cơ thể nạn nhân Vũ Đức M trên mặt đường. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

Ngày 25/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L có Công văn gửi Sở giao thông vận tải tỉnh B về việc trích xuất dữ liệu về hành trình, tốc độ của xe ô tô mang biển kiểm soát 98B-01381 từ thời gian 19 giờ 20 phút đến 19 giờ 30 phút ngày 06/6/2024. Ngày 10/7/2024, Sở giao thông vận tải tỉnh B có Văn bản trả lời số 1792 về việc trích xuất dữ liệu của xe ô tô, tốc độ trước khi về 0 của xe được ghi nhận là 46km/h, trước khi xe dừng hẳn.

Ngày 19/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu máu thu tại hiện trường. Tại Kết luận giám định số 1483/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trên mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “MÁU HIỆN TRƯỜNG” có máu người, nhóm máu A). Mẫu máu của Vũ Đức M thuộc nhóm máu A.

Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chất cồn, chất ma túy trong mẫu máu của tử thi Vũ Đức M có không?. Ngày 14/6/2024 và ngày 21/6/2024, V Bộ C1 có bản Kết luận giám định số 4371, 4383/KL-KTHS xác định: trong mẫu máu thu của tử thi Vũ Đức M có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol là 168 mg/100ml máu; không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của anh Vũ Đức M.

Ngày 04/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định giá đối với hư hỏng của xe ô tô sau tai nạn. Tại Kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: gò, nắn, sơn lại nắp Capo của xe ô tô biển kiểm soát 98B-01381 bị thiệt hại sau tai nạn là 2.500.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do lỗi hỗn hợp.

Giáp Xuân H điều khiển xe ô tô tại nơi có biển báo khu vực đông dân cư và có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng không chú ý quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; khoản 5, 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; anh Vũ Đức M khi qua đường không đi đúng nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và khi qua đường không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 2, 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Dẫn đến xe ô tô do H điều khiển va chạm với anh M. Hậu quả anh M tử vong.

Khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định:

4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường......”

Điều 5,6 Thông tư số 31 quy định Các trường hợp phải giảm tốc độ:

  1. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông;
  2. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.....”

Khoản 2,3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ quy định đối với người đi bộ:

“ 2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

3.Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.....".

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Giáp Xuân H cùng Công ty TNHH H2 (do anh Nguyến Tuấn M5, sinh năm 1974 ở thôn K, xã P, huyện L đại diện theo ủy quyền) đã hỗ trợ cho gia đình bị hại Nguyễn Tuấn M4 số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng chẵn); Người đại diện hợp pháp của anh M4 là chị Nguyễn Thị Thúy H1 (là vợ anh M4) đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Giáp Xuân H. Công ty TNHH H2 không yêu cầu Giáp Xuân H phải bồi thường thiệt hại hư hỏng xe ô tô.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Giáp Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi điều khiển xe của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp cho bị hại, bị đơn dân sự, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKS-LNg ngày 28 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Giáp Xuân H về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giáp Xuân H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 22/12/2020 mang tên Giáp Xuân H.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Giáp Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và cũng có lời khai tại hồ sơ, việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

“Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 06/6/2024, Giáp Xuân H, sinh năm 1982, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD loại xe 16 chỗ, biển kiểm soát 98B-01381 đi hướng thành phố B đi huyện L, khi đi đến Km 29+ 750, Quốc lộ C thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L là khu vực đông dân cư và là nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với anh Vũ Đức M, sinh năm 1978, thường trú tại thôn P, xã P, huyện L đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường, theo hướng L đi Bắc Giang, hậu quả anh M tử vong, xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 2.500.000 đồng”.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Giáp Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành các quy định về an toàn giao thông, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây hậu quả làm cho anh Vũ Đức M tử vong. Do vậy cần áp dụng hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 200.000.000 đồng; Quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người bị hại cũng có một phần lỗi; Người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị hại cũng có lỗi một phần là khi qua đường không đi đúng nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và khi qua đường không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện cải tạo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • Ngày 11/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô khách, màu ghi vàng, nhãn hiệu FORD, loại xe 16 chỗ, biển kiểm soát 98B-01381 cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 22/12/2020 mang tên Giáp Xuân H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Giáp Xuân H cùng Công ty TNHH H2 (do anh Nguyến Tuấn M5, sinh năm 1974 ở thôn K, xã P, huyện L đại diện theo ủy quyền) đã hỗ trợ cho gia đình anh Vũ Đức M số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn); Người đại diện hợp pháp của anh M là chị Nguyễn Thị Thúy H1 (là vợ anh M) đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Giáp Xuân H. Công ty TNHH H2 không yêu cầu Giáp Xuân H phải bồi thường thiệt hại hư hỏng xe ô tô nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Giáp Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự được quyên kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Giáp Xuân H 01 (Một ) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 22/12/2020 mang tên Giáp Xuân H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Giáp Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 14/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Giáp Xuân H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger