Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn,

nuôi con và chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Hoa

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phượng

Ông Lê Đình Thủ

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 484/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 515/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại tòa án nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh P sau thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, cuối cùng vợ chồng quyết định tiến đến hôn nhân và có làm lễ cưới với nhau theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, và được UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 131/2019 ngày 16/12/2019.

Trong thời kỳ hôn nhân giữa vợ chồng có rất nhiều mâu thuẫn, và ngày càng trầm trọng hơn không thể nào hàn gắn được, cụ thể anh Nguyễn Thanh P có mối quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác, chị D đã nhiều lần đóng góp và thuyết phục nhưng không được, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng ngăn cách và mâu thuẫn với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống trong hôn nhân, năm 2021 anh Nguyễn Thanh P bỏ nhà đi không sống chung với chị D1, từ đó đến nay là trên 02 năm vợ chồng không liên lạc bằng điện thoại cũng như không gặp nhau. Nay chị Trần Thị D1 yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh P

  • Về con chung: Không có.

  • Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh P đã đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh P không có văn bản ý kiến, anh P không tham gia hòa giải và cũng không có văn bản ý kiến gửi về Tòa án. Tòa án triệu tập anh P để tham gia phiên hòa giải và xét xử nhưng anh P vẫn không có mặt không lý do.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

Nguyên đơn cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau:

  • Giấy căn cước công dân Trần Thị D (bản photo);

  • Trích lục kết hôn Nguyễn Thanh P – Trần Thị D (bản sao);

  • Hợp đồng ủy quyền (bản chính);

  • Công văn trả lời xác minh số 12/CAX ngày 06/5/2024 của Công án xã B Tây.

  • Tờ tự khai (bản chính).

Các tài liệu trong hồ sơ các đương sự thống nhất theo biên bản phiên họp công khai và tiếp cận chứng cứ ngày 07/8/2024 và đã thông báo cho đương sự vắng mặt được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai tại Tòa án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D về việc ly hôn với anh Nguyễn Thanh P nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, con chung và tài sản chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Thanh P hiện đang cư trú tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng, xét thấy: nguyên đơn chị D có đơn xin vắng mặt, bị đơn là anh P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung, xét yêu cầu của nguyên đơn:

[4.1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị D yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh P là có căn cứ, bởi lẽ: Chị D và anh P kết hôn và sống chung với năm từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 16/12/2019 nên hôn nhân giữa chị D và anh P là hợp pháp. Trong quá trình sống chung hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, chị D cho rằng nguyên nhân là do anh P có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác mà không quan tâm đến gia đình, vợ chồng ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Chị D đã nhiêu lần khuyên ngăn nhưng anh P vẫn không thay đổi. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Nguyễn Thanh P tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng lại vắng mặt không có lý do cũng như không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị D.

[4.2] Về con chung: Chị D trình bày vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4.3] Về tài sản chung: Chị D trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4.4] Về nợ chung: Chị D trình bày trong quá trình sống chung vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí:

Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Chị D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008718 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    • Về hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Thanh P.

    • Về con chung: Không có

    • Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí:

    Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị D đã nộp theo Biên lai số số 0008718 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND HCL;
  • - Toà án Tỉnh;
  • - Chi cục THADS HCL
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Võ Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình - ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung

  • Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger